Chiều cao treo bảng lớp học, tiểu học và trung học không giống nhau

Chiều cao treo bảng không có một con số dùng chung cho mọi cấp học. Mép dưới bảng cách mặt sàn từ 0,65 m đến 0,8 m với trường tiểu học, và từ 0,8 m đến 1,0 m với trường trung học. Hai khoảng này không trùng nhau, chỉ gặp nhau đúng ở mốc 0,8 m. Nếu bảng thiết kế di chuyển lên xuống được cho học sinh khuyết tật, mép dưới không nhỏ hơn 0,4 m.

Hai cấp học, hai con số khác nhau

Thị trường thường nói một câu chung là “cạnh dưới bảng cách sàn 0,8 m đến 1 m”. Câu đó đúng, nhưng chỉ đúng với trường trung học. Áp cùng con số ấy cho trường tiểu học là treo bảng cao hơn quy định.

Chiều cao từ mặt sàn đến mép dưới bảngTrích trực tiếp từ hai tiêu chuẩn thiết kế trường học
Cấp học Mép dưới bảng cách sàn Căn cứ
Tiểu học 0,65 m đến 0,8 m TCVN 8793:2011, mục 5.2.6
Trung học cơ sở và trung học phổ thông 0,8 m đến 1,0 m TCVN 8794:2011, mục 5.2.12
Bảng di chuyển được cho học sinh khuyết tật không nhỏ hơn 0,4 m cả hai tiêu chuẩn

Cùng khoảng số đó còn nằm trong một thông tư, tức là bắt buộc. Thông tư liên tịch 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT, Điều 4 khoản 3, quy định mép dưới bảng cách nền phòng học từ 0,65 m đến 0,80 m với trường tiểu học và từ 0,8 m đến 1,0 m với trường trung học. Con số trùng khớp với hai tiêu chuẩn thiết kế, nhưng giá trị pháp lý cao hơn: tiêu chuẩn thì tự nguyện, thông tư thì bắt buộc.

Thông tư này còn quy định thêm ba việc mà tiêu chuẩn thiết kế không nói: bảng phải chống loá, treo giữa tường, và cách mép bàn học sinh đầu tiên không nhỏ hơn 1,8 m. Nguyên văn TCVN 8794:2011 mục 5.2.12:

“Chiều cao từ mặt sàn đến mép dưới của bảng không nhỏ hơn 0,8 m và không lớn hơn 1,0 m.”

Chú thích của chính mục đó: “Nếu điều kiện cho phép, cần thiết kế bảng có thể di chuyển lên xuống theo phương thẳng đứng để phù hợp với đối tượng học sinh là người khuyết tật. Độ cao của mép dưới bảng không nhỏ hơn 0,40 m.”

So sánh chiều cao treo bảng hai cấp học: tiểu học mép dưới bảng cách mặt sàn 0,65 đến 0,8 mét, trung học 0,8 đến 1,0 mét

Vì sao hai cấp lại lệch nhau?

Vì mép dưới bảng phải nằm trong tầm với của người dùng bảng, và người dùng bảng không chỉ có giáo viên. Học sinh tiểu học lên bảng làm bài. Nếu mép dưới bảng ở 1,0 m thì học sinh lớp 1 gần như không viết được ở phần dưới cùng của bảng. Học sinh trung học cao hơn nên bảng treo cao hơn được, đổi lại phần bảng nằm trên cao vẫn nhìn rõ từ cuối lớp.

Đây cũng là lý do khoảng của tiểu học rộng 15 cm và bắt đầu thấp hơn: nó phải chứa được cả học sinh lớp 1 và lớp 5, hai nhóm chênh nhau đáng kể về chiều cao.

Bảng từ chống loá mặt xanh treo tường, khung nhôm
Bảng từ chống loá mặt xanh treo tường, khung nhôm

Trường liên cấp thì treo theo cấp nào?

Hai khoảng có một điểm chồng nhau là 0,8 m. Đó là mốc duy nhất vừa nằm trong khoảng của tiểu học vừa nằm trong khoảng của trung học. Nhưng cách xử lý đúng không phải chọn 0,8 m cho toàn trường, mà là treo theo cấp học đang dùng phòng đó. Phòng của khối tiểu học treo theo mốc tiểu học, phòng của khối trung học treo theo mốc trung học.

Trường hợp một phòng thật sự dùng chung cho cả hai khối thì mốc 0,8 m là lựa chọn duy nhất không sai với tiêu chuẩn nào. Còn giải pháp tốt hơn là dùng loại bảng nâng hạ được, đúng như chú thích của cả hai tiêu chuẩn khuyến nghị.

Tính vị trí khoan tường thế nào?

Số trong tiêu chuẩn là mép dưới, nhưng thợ lắp cần biết vị trí khoan, tức là còn phải cộng chiều cao bảng. Bảng treo tường của xưởng Hồng Đức cao 1230 mm. Với con số đó:

Vị trí mép trên bảng, tính với bảng cao 1230 mm
Cấp học Mép dưới Mép trên
Tiểu học 0,65 m 1,88 m
Tiểu học 0,80 m 2,03 m
Trung học 0,80 m 2,03 m
Trung học 1,00 m 2,23 m

Chiều cao thông thuỷ phòng học theo cả hai tiêu chuẩn là 3,30 m đến 3,60 m, nên mép trên bảng ở 2,23 m vẫn còn cách trần hơn một mét. Không có tình huống bảng chạm trần, trừ khi phòng cải tạo từ công trình khác có trần thấp. Nếu bảng cao khác 1230 mm thì tính lại theo đúng cách trên: lấy mốc mép dưới theo cấp học, cộng chiều cao bảng thực tế của sản phẩm sẽ lắp.

Bảng trượt 3 tấm treo trên mảng tường đầu phòng học
Bảng trượt 3 tấm treo trên mảng tường đầu phòng học

Đây là quy định bắt buộc hay khuyến nghị?

Cả TCVN 8793:2011 và TCVN 8794:2011 đều là tiêu chuẩn, ký hiệu TCVN, nên tự nguyện áp dụng. Khác với quy chuẩn ký hiệu QCVN là bắt buộc. Trường treo bảng lệch khỏi khoảng nêu trên không vi phạm pháp luật. Nhưng có ba tình huống mà con số này trở nên quan trọng:

  • Thiết kế trường xây mới. Hồ sơ thiết kế thường viện dẫn hai tiêu chuẩn này, nên bản vẽ phải khớp
  • Lập hồ sơ mời thầu. Ghi “treo bảng theo TCVN 8794:2011 mục 5.2.12” rõ ràng hơn nhiều so với “treo ở độ cao phù hợp”
  • Nghiệm thu. Có số hiệu tiêu chuẩn thì hai bên đo và đối chiếu được, không tranh cãi cảm tính

Ba lỗi hay gặp khi lắp bảng

  • Dùng chung một độ cao cho cả trường liên cấp. Thường là lấy mốc trung học áp cho cả khối tiểu học, khiến học sinh nhỏ không với tới phần dưới bảng
  • Đo từ mép trên xuống. Tiêu chuẩn quy định theo mép dưới. Đo từ trên xuống rồi trừ ra dễ sai khi bảng có kích thước khác loại thông dụng
  • Lấy mặt bục giảng làm gốc. Tiêu chuẩn ghi rõ là tính từ mặt sàn. Lớp có bục giảng thì bục nâng giáo viên lên, không nâng học sinh ngồi dưới, nên gốc đo vẫn là sàn

Hồng Đức lắp bảng cho trường học tại Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa, theo đúng mức chiều cao của từng cấp.

Liên quan đến chủ đề này, xem thêm bốn số phải đo trước khi lắp bảng trượt, các loại bảng viết lớp học và cách chọn bảng trượt ngang cho trường học.

Trường liên cấp thì mỗi khối một mức treo khác nhau, đừng để thợ lấy chung một số. Cần bộ phận kỹ thuật hỗ trợ thì gọi 0914 312 295.

Nguồn tham chiếu

  • TCVN 8793:2011 Trường tiểu học – Yêu cầu thiết kế, mục 5.2.6
  • TCVN 8794:2011 Trường trung học – Yêu cầu thiết kế, mục 5.2.12 và Bảng 1