Khoảng cách từ bảng đến bàn học sinh, quy định nào có và cách đo

Khoảng cách từ hàng bàn cuối đến bảng không được vượt quá 8 m. Hàng bàn đầu phải đặt sao cho góc nhìn lên bảng không nhỏ hơn 30 độ và góc quay đầu không lớn hơn 60 độ. Khoảng cách giữa hai dãy bàn không nhỏ hơn 80 cm, giữa các hàng từ 95 cm đến 100 cm. Các số này nằm trong TCVN 7491:2005 về bố trí bàn ghế học sinh trong phòng học.

Văn bản nào quy định khoảng cách này?

TCVN 7491:2005 Ecgônômi – Bố trí bàn ghế học sinh trong phòng học. Tên tiêu chuẩn nói rõ phạm vi: nó không quy định bàn ghế làm thế nào, mà quy định kê bàn ghế ở đâu trong phòng. Cần phân biệt ngay một điều trước khi dùng các con số bên dưới:

Quy chuẩn và tiêu chuẩn không giống nhau
Loại Ký hiệu Tính chất
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN Bắt buộc áp dụng
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN Tự nguyện áp dụng

TCVN 7491:2005 là tiêu chuẩn. Trường kê bàn ghế khác đi thì không vi phạm pháp luật. Nhưng khi lập dự toán hoặc thiết kế phòng học mà viện dẫn được số hiệu tiêu chuẩn thì hồ sơ vững hơn hẳn cách ghi “bố trí hợp lý” chung chung.

Bốn con số cần nhớ

Khoảng cách bố trí trong phòng họcTCVN 7491:2005
Mục Nội dung Trị số
3.6 Góc nhìn từ hàng bàn đầu lên bảng không nhỏ hơn 30°
3.6 Góc quay đầu của học sinh không lớn hơn 60°
3.7 Hàng bàn cuối cách bảng không quá 8 m
3.4 Giữa hai dãy bàn không nhỏ hơn 80 cm
3.5 Giữa các hàng bàn 95 cm đến 100 cm
Sơ đồ mặt bằng phòng học thể hiện góc nhìn tối thiểu 30 độ từ hàng bàn đầu lên bảng và khoảng cách tối đa 8 mét từ bảng tới hàng bàn cuối theo TCVN 7491:2005

Còn một con số bắt buộc nữa là 1,8 m

Các trị số trên nằm trong TCVN 7491:2005, là tiêu chuẩn nên tự nguyện áp dụng. Nhưng có một con số về khoảng cách nằm trong thông tư, tức là bắt buộc. Thông tư liên tịch 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT, Điều 4 khoản 3, quy định khoảng cách từ bảng tới mép bàn học sinh đầu tiên không nhỏ hơn 1,8 m. Cùng điều khoản đó yêu cầu bảng treo giữa tường và phải là bảng chống loá.

Hai con số này bổ sung cho nhau chứ không thay thế nhau:

  • 1,8 m là khoảng cách tối thiểu tính bằng mét, áp cho mọi lớp, bắt buộc
  • Góc nhìn 30° phụ thuộc bề rộng bảng, nên lớp có bảng rộng phải lùi xa hơn 1,8 m mới đạt

Cách dùng khi bố trí lớp: lấy 1,8 m làm mốc sàn, rồi kiểm tra góc nhìn xem có phải lùi thêm không.

Góc nhìn 30 độ nghĩa là gì và đo thế nào?

Đây là chỗ hay bị hiểu sai nhất, vì tiêu chuẩn không cho một khoảng cách bằng mét mà cho một góc. Lý do: khoảng cách phụ thuộc vào bảng rộng bao nhiêu. Bảng càng rộng thì hàng bàn đầu càng phải lùi ra xa, nếu không học sinh ngồi mép ngoài phải nhìn quá xiên.

Cách đo tại lớp:

  1. Ngồi vào chỗ của học sinh ở mép ngoài cùng của hàng bàn đầu, tức chỗ bất lợi nhất trong phòng
  2. Nhìn về cạnh bảng ở phía xa mình nhất
  3. Góc giữa hướng nhìn đó và mặt phẳng bảng chính là góc nhìn cần kiểm tra

Nếu góc đó nhỏ hơn 30 độ, học sinh ngồi chỗ ấy nhìn chữ bị méo và phải nghiêng người. Cách xử lý là lùi hàng bàn đầu ra xa bảng thêm, hoặc thu hẹp bề ngang dãy bàn. Góc quay đầu 60 độ kiểm tra theo cách tương tự, nhưng đo ở phương ngang: học sinh ngồi mép ngoài không phải quay đầu quá 60 độ mới thấy hết bảng.

Vì sao hàng bàn cuối phải trong vòng 8 m?

Quá 8 m thì chữ trên bảng nhỏ dần tới mức học sinh phải nheo mắt. Đây là ràng buộc về thị lực, không phải về thẩm mỹ. Con số 8 m cũng đặt giới hạn cho chiều dài phòng học. Cộng thêm khoảng cách từ bảng tới hàng bàn đầu và khoảng trống phía sau lớp, phòng học dài quá mức sẽ có những chỗ ngồi không dùng được đúng nghĩa.

Trong thực tế, phòng học ở nhiều trường vẫn kê thêm bàn phía sau khi sĩ số tăng. Chỗ ngồi thêm đó thường vượt mốc 8 m mà không ai đo lại.

Lớp học kê bàn ghế học sinh thành các hàng hướng lên bảng
Lớp học kê bàn ghế học sinh thành các hàng hướng lên bảng

Khoảng cách giữa các dãy để làm gì?

Hai con số 80 cm và 95 đến 100 cm không phải chỉ để đi lại cho thoáng. Chúng phục vụ ba việc cùng lúc:

  • Thoát nạn. Lối đi đủ rộng để cả lớp ra ngoài nhanh khi có sự cố
  • Giáo viên tiếp cận được từng học sinh. Dãy quá sát nhau thì thầy cô không đi xuống cuối lớp được
  • Học sinh kéo ghế ra vào không va vào bàn sau. Đây là lý do khoảng cách giữa các hàng lớn hơn khoảng cách giữa các dãy

Khi tính số bàn kê được trong một phòng, phải trừ các khoảng cách này trước rồi mới chia, chứ không phải lấy diện tích phòng chia cho diện tích một bộ bàn ghế.

Phòng học rộng bao nhiêu thì đủ?

Hai tiêu chuẩn thiết kế trường học có quy định riêng, và số của hai cấp khác nhau:

Kích thước phòng học theo cấpTCVN 8793:2011 và TCVN 8794:2011
Chỉ tiêu Tiểu học Trung học
Diện tích mỗi học sinh 1,25 m² 1,50 m²
Chiều rộng phòng học không lớn hơn 7,2 m nếu lấy sáng một phía không nhỏ hơn 7,20 m
Chiều cao thông thuỷ 3,30 đến 3,60 m
Số cửa ra vào theo thiết kế hai cửa, một đầu lớp một cuối lớp

Chú ý chiều rộng phòng học của tiểu học là giới hạn trên, còn của trung học là giới hạn dưới. Hai tiêu chuẩn tiếp cận vấn đề từ hai phía: tiểu học chặn để ánh sáng tự nhiên vào tới được dãy bàn xa cửa sổ nhất, trung học chặn để phòng đủ chỗ kê bàn ghế lớn hơn.

Bảng đặt ở đâu trong phòng?

Tiêu chuẩn không nói bảng phải treo ở tường nào, nhưng quy định về chiếu sáng thì có, và nó gián tiếp quyết định vị trí bảng. TCVN 8794:2011 mục 6.2.4 quy định hướng chiếu sáng chính là hướng Bắc hoặc Đông Bắc, đến từ phía tay trái học sinh. Chú thích của mục này nói thẳng: “Không cho phép chiếu sáng từ phía tường bố trí bảng lớp học.” Nghĩa là bảng không được treo trên bức tường có cửa sổ chính. Ánh sáng hắt thẳng vào mắt học sinh khi nhìn lên bảng sẽ gây loá, và đó là điều tiêu chuẩn cấm.

Bảng trượt 3 tấm treo trên mảng tường đầu phòng học
Bảng trượt 3 tấm treo trên mảng tường đầu phòng học

Kiểm tra một phòng học đang dùng

Bốn phép đo, làm trong khoảng mười phút với một thước dây:

  1. Đo từ mặt bảng tới mép bàn hàng cuối. Vượt 8 m thì các chỗ ngồi cuối cần được xếp lại
  2. Ngồi vào chỗ mép ngoài hàng đầu, kiểm tra có phải nghiêng người hay quay đầu nhiều mới thấy hết bảng không
  3. Đo lối đi giữa hai dãy bàn, so với mốc 80 cm
  4. Đứng ở cuối lớp nhìn lên bảng, xem có vệt sáng phản chiếu từ cửa sổ trên mặt bảng không

Phép đo thứ tư hay bị bỏ qua nhất, mà lại là phép đo cho biết học sinh cuối lớp có đọc được bảng hay không.

Hồng Đức làm bảng và bàn ghế học sinh tại Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa, và nhận khảo sát phòng học trước khi lắp.

Liên quan đến chủ đề này, xem thêm các loại bảng viết lớp học, các cách kê bàn ghế học sinh trong lớp và bốn số phải đo trước khi lắp bảng trượt.

Trường thấy các em cuối lớp hay kêu không đọc rõ bảng thì gọi 0914 312 295. Thường là chuyện khoảng cách chứ không phải chuyện cỡ chữ.

Nguồn tham chiếu

  • TCVN 7491:2005 Ecgônômi – Bố trí bàn ghế học sinh trong phòng học, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
  • TCVN 8793:2011 Trường tiểu học – Yêu cầu thiết kế
  • TCVN 8794:2011 Trường trung học – Yêu cầu thiết kế, mục 6.2.4