Mô hình phòng học thông minh và cách bố trí căn phòng

Hai phòng học nằm cạnh nhau trong cùng một dãy, một phòng được gọi là phòng thông minh còn phòng kia thì không. Đứng ngoài cửa nhìn vào, thứ khác nhau rõ nhất hoá ra không phải cái màn hình treo trên tường, mà là vị trí cái bảng, cách kê bộ bàn ghế, chỗ đặt ổ điện và hướng đánh đèn.

Bốn thứ ấy làm nên bố cục của căn phòng, và khác với phần mềm, chúng đều đo được bằng con số. Bảng trượt 3000 × 2500 mm thay cho tấm bảng thường, bàn ghế là loại rời ghế để xoay được, phòng rộng tối thiểu 7,20 m theo tiêu chuẩn thiết kế, và khu vực bảng sáng 500 lux trong khi chỗ ngồi chỉ cần 300 lux.

Mô hình phòng học thông minh trong trường học

Mô hình phòng học thông minh khác phòng học thường ở chỗ nào

Câu trả lời thường nghe là phòng thông minh có công nghệ, còn phòng thường thì không. Cách hiểu ấy đúng nhưng chưa đủ, vì nó bỏ qua chuyện quan trọng hơn: công nghệ chỉ chạy được khi căn phòng đỡ được nó. Một màn hình tương tác treo lên bức tường không có ổ điện gần đó, trong căn phòng mà bàn ghế không xoay được để các em nhìn về phía nó, thì cuối cùng vẫn chỉ là cái ti vi đắt tiền.

Nên khi nhìn một mô hình phòng học thông minh, hãy nhìn phần cứng bất động trước. Phòng ấy có đủ chỗ cho các em ngồi quay nhiều hướng không, bảng đặt ở đâu, ổ điện nằm chỗ nào, và ánh sáng có làm chói màn hình vào buổi trưa hay không. Bốn câu ấy quyết định căn phòng dùng được bao lâu, còn màn hình và phần mềm thì đổi lúc nào cũng được.

Bốn thứ trong phòng quyết định mô hình

Cái bảng. Đây là thứ cả lớp phải nhìn về nên nó quyết định hướng ngồi của tất cả. Phòng thông minh thường dùng bảng trượt như mã HBV08 khổ 3000 × 2500 mm gắn cố định vào tường, gồm nhiều tấm trượt chồng lên nhau nên diện tích viết lớn hơn hẳn một tấm bảng thường cùng bề ngang, và phần sau thường được ghép với màn hình. Trường nào cần đẩy bảng đi để đổi cách kê thì chọn bản di động có bánh xe như HBV04 khổ 2400 × 1230 mm. Mặt bảng của các mã này nhập khẩu từ Hàn Quốc với dòng kẻ ô 5 × 5 cm, chi tiết nhỏ nhưng thầy cô tiểu học rất để ý vì nó giúp các em viết chữ thẳng hàng.

Bộ bàn ghế. Đây là thứ quyết định phòng có linh hoạt thật hay chỉ linh hoạt trên giấy. Bàn liền ghế, tức loại ghế gắn cứng vào khung bàn như HBH11M và HBH12M khổ 1200 × 400 × 640 mm, rất chắc chắn nhưng ghế quay cố định một hướng nên gần như chỉ xếp hàng được. Muốn chuyển nhanh giữa giờ giảng và giờ làm việc nhóm thì phải là loại rời ghế, chẳng hạn HBH13M cũng khổ 1200 × 400 × 640 mm.

Đường điện và mạng. Đây là phần đắt nhất nếu làm sai, vì sửa nghĩa là đục tường. Nguyên tắc gọn: bản vẽ kê bàn xong trước, rồi thợ điện và thợ mạng mới vào, bởi vị trí từng chỗ ngồi quyết định vị trí từng ổ cắm. Khi đếm ổ thì đếm theo thiết bị dùng cùng lúc chứ đừng đếm theo bàn, và nhớ cả máy chiếu, loa, bộ chia mạng cùng một ổ dự phòng.

Ánh sáng. Phòng có màn hình thì sợ cả thiếu sáng lẫn chói. TCVN 8794:2011 nêu độ rọi phòng học là 300 lux còn khu vực bảng cần 500 lux, tức bảng phải sáng hơn chỗ ngồi. Phần trường quyết định được là hướng kê so với cửa sổ, và nguyên tắc là để cửa sổ nằm bên hông người ngồi, vì ánh sáng vào từ sau lưng thì hắt lên màn hình còn vào từ phía trước thì chiếu thẳng vào mắt các em.

Phòng học thông minh với bảng và bàn ghế bố trí linh hoạt

Tính linh hoạt nằm ở bàn ghế, không nằm ở phần mềm

Mọi tài liệu về phòng học thông minh đều nhắc tới tính linh hoạt, và thường liệt kê nó như một đặc tính của công nghệ. Thực tế ở các phòng chúng tôi lắp thì ngược lại: phần mềm đổi trong một buổi chiều, còn cái quyết định lớp có chuyển được từ giờ giảng sang giờ thảo luận trong năm phút hay không lại là bộ bàn ghế. Nếu lớp dùng bàn liền ghế thì dù phần mềm hiện đại tới đâu, các em vẫn ngồi thành hàng quay về một hướng suốt buổi. Còn bàn rời ghế thì cùng một căn phòng ấy kê được cụm nhóm, chữ U hay vòng tròn tuỳ tiết học, và việc chuyển chỉ mất vài phút. Chi tiết từng kiểu kê cùng loại bàn tương ứng chúng tôi viết riêng ở bài cách bố trí bàn ghế học sinh trong lớp học.

Có một điểm nữa ít trường để ý. Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT cho phép trong một phòng học bố trí đồng thời nhiều cỡ số, nên lớp có chênh lệch chiều cao lớn giữa các em thì đặt hai cỡ vẫn đúng quy định. Đó cũng là một dạng linh hoạt, và nó không tốn thêm đồng nào cho công nghệ.

Ba kiểu bố cục hay gặp

Kiểu thứ nhất là giữ hàng, thêm màn hình. Bàn ghế vẫn xếp hàng hướng lên bảng, chỉ bổ sung màn hình và hệ âm thanh. Đây là cách rẻ nhất và nhanh nhất, hợp với phòng đang dùng bàn liền ghế mà trường chưa muốn thay. Đổi lại nó không cho các em làm việc nhóm, nên gọi là phòng thông minh thì hơi quá tay.

Kiểu thứ hai là cụm nhóm quanh một bảng lớn. Bàn rời ghế ghép thành từng cụm bốn tới sáu em, bảng trượt đặt ở đầu phòng làm điểm nhìn của cả lớp. Đây là mô hình cân bằng nhất giữa chi phí và công năng, và cũng là kiểu phần lớn trường chọn khi làm phòng mới.

Kiểu thứ ba là phòng kiêm phòng máy, tức có thêm máy tính cho học sinh. Lúc này cách tính phòng đổi hẳn, vì mỗi chỗ ngồi trước màn hình chiếm 600 mm bề ngang và bàn phải sâu 500 mm. Phần bố trí đường mạng và ổ điện cho kiểu này chúng tôi nói kỹ ở bài cách bố trí bàn máy tính trong phòng tin học.

Bố cục phòng học thông minh với bàn ghế kê theo cụm

Phòng cần rộng bao nhiêu

Trước khi chốt kiểu bố cục, có hai con số nên biết. TCVN 8794:2011 nêu chiều rộng phòng học không nhỏ hơn 7,20 m và định mức diện tích 1,50 m² cho mỗi học sinh. Hai con số ấy cho biết phòng đang rộng rãi hay đã kín, và từ đó biết mình còn cửa nào.

Phép tính khá đơn giản. Kiểu xếp hàng tận dụng diện tích tốt nhất, kiểu cụm nhóm tốn hơn vì phải chừa lối đi quanh từng cụm, còn phòng kiêm phòng máy thì tốn nhất vì bàn sâu hơn và cần chỗ cho thùng máy. Phòng đã chạm ngưỡng 1,50 m² mỗi em mà vẫn muốn làm cụm nhóm thì phải chấp nhận giảm sĩ số, và đó là thông tin nên đưa ra bàn từ đầu chứ không phải sau khi đã mua đồ.

Phần phải cân nhắc trước khi quyết

Nói cho công bằng thì mô hình này không rẻ, và cái tốn không nằm hết ở lần mua đầu. Ngoài chi phí thiết bị, trường còn phải tính tới việc tập huấn cho thầy cô dùng được đồ mới, rồi chi phí bảo trì hằng năm cho phần điện tử, thứ mà bàn ghế gỗ và bảng từ gần như không có. Vì vậy một cách làm thận trọng mà nhiều trường chọn là làm phần bất động trước cho chuẩn, gồm bảng, bàn ghế, điện mạng và đèn, rồi bổ sung phần công nghệ theo từng năm ngân sách. Cách này giúp trường không phải đục tường lần hai, và nếu sau một học kỳ thấy cần chỉnh chỗ nào thì chỉnh được ngay vì bàn ghế vốn đã chọn loại kê lại được.

Phần thứ tự thi công đầy đủ, bước nào làm trước bước nào làm sau, chúng tôi viết riêng ở bài 5 bước xây dựng phòng học thông minh cho trường cấp 1.

Bảng tra nhanh số đo

Hạng mục Mã Số đo
Bảng trượt gắn tường HBV08 3000 × 2500 mm
Bảng từ di động HBV04 2400 × 1230 mm
Bàn liền ghế tiểu học HBH11M, HBH12M 1200 × 400 × 640 mm
Bàn rời ghế tiểu học HBH13M 1200 × 400 × 640 mm
Chỗ ngồi trước màn hình HBT11M 600 mm mỗi chỗ, bàn sâu 500 mm
Chiều rộng phòng tối thiểu TCVN 8794:2011 7,20 m
Diện tích mỗi học sinh TCVN 8794:2011 1,50 m²
Độ rọi phòng học và khu bảng TCVN 8794:2011 300 lux và 500 lux

Nội thất Hồng Đức sản xuất bảng, bàn ghế và nội thất lớp học tại Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa, và nhận làm trọn gói phần nội thất cho phòng học thông minh.

Trường gửi kích thước phòng và sĩ số về số 0914 312 295, chúng tôi trả lại bản vẽ bố cục cho từng kiểu để ban giám hiệu so trước khi quyết. Việc này không tính phí.

Ghi chú về số liệu

  • Kích thước và chất liệu các mã bảng HBV04, HBV08 cùng các mã bàn ghế HBH11M, HBH12M, HBH13M lấy từ hồ sơ sản phẩm đang đăng của Công ty Cổ phần Thiết bị giáo dục Hồng Đức, rà ngày 14/09/2026. Mặt bảng nhập khẩu Hàn Quốc và dòng kẻ ô 5 × 5 cm cũng lấy từ nguồn này.
  • Con số 600 mm cho một chỗ ngồi trước màn hình ghi thẳng trong hồ sơ mã bàn máy tính HBT11M.
  • Chiều rộng phòng học không nhỏ hơn 7,20 m, định mức 1,50 m² mỗi học sinh, độ rọi 300 lux cho phòng học và 500 lux cho khu vực bảng lấy từ TCVN 8794:2011, tra trên cổng thông tin tiêu chuẩn của Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam. Đây là tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng, không phải quy chuẩn bắt buộc.
  • Câu trong một phòng học có thể bố trí đồng thời nhiều cỡ số lấy từ Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT, bản đăng trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật.
  • Ba kiểu bố cục và phần cân nhắc chi phí là kinh nghiệm thi công nội thất lớp học tại xưởng, không phải quy định bắt buộc.
  • Bài không nêu chi phí cụ thể của thiết bị điện tử vì đó không phải lĩnh vực của công ty.

Bài do bộ phận kinh doanh Công ty Cổ phần Thiết bị giáo dục Hồng Đức biên soạn, dựa trên hồ sơ sản phẩm và thực tế thi công nội thất lớp học cho trường học tại Thanh Hóa và các tỉnh lân cận.

Câu hỏi thường gặp về phòng học thông minh

Phòng học thông minh có bắt buộc dùng bàn ghế đặc biệt không?

Không cần loại bàn ghế “đặc biệt”, nhưng cần chọn đúng loại rời ghế như mã HBH13M để xoay chuyển linh hoạt giữa các kiểu kê. Bàn liền ghế như HBH11M, HBH12M có ghế gắn cứng vào khung bàn nên gần như chỉ xếp hàng được, dù phòng có trang bị màn hình hiện đại tới đâu.

Diện tích tối thiểu cho phòng học thông minh là bao nhiêu?

Theo TCVN 8794:2011, phòng học cần rộng tối thiểu 7,20 m và định mức 1,50 m² cho mỗi học sinh. Tuy nhiên đây là mức chung cho phòng học; kiểu bố trí cụm nhóm tốn diện tích hơn kiểu xếp hàng vì phải chừa lối đi quanh từng cụm, còn phòng kiêm phòng máy tốn nhất vì bàn sâu hơn và cần chỗ đặt thùng máy.

Phòng học thông minh khác phòng học truyền thống ở đâu?

Khác biệt rõ nhất không nằm ở màn hình hay phần mềm, mà ở bốn yếu tố cố định đo được bằng con số: vị trí và loại bảng (bảng trượt thay cho bảng thường), cách kê bộ bàn ghế (rời ghế để xoay được thay vì liền ghế), vị trí đường điện và mạng, và hướng đánh đèn theo đúng độ rọi tiêu chuẩn.

Chi phí trang bị phòng học thông minh gồm những hạng mục nào?

Ngoài chi phí thiết bị công nghệ như màn hình và phần mềm, trường cần tính thêm chi phí tập huấn cho giáo viên sử dụng thiết bị mới và chi phí bảo trì hằng năm cho phần điện tử. Nhiều trường chọn cách làm phần cố định trước cho chuẩn (bảng, bàn ghế, điện mạng, đèn), rồi bổ sung phần công nghệ theo từng năm ngân sách để tránh phải sửa chữa lại kết cấu phòng.