Không có bảng bàn ghế học sinh nào chia theo độ tuổi. Bảng đang dùng chia theo chiều cao, gồm sáu cỡ, bàn từ 45 cm đến 69 cm.
Muốn biết một em cần cỡ nào thì đo chiều cao rồi tra bảng bên dưới. Tuổi và khối lớp chỉ giúp đoán chừng, không dùng để đặt hàng được.
Vì sao không có bảng bàn ghế theo độ tuổi?
Vì cùng một tuổi, các em cao thấp rất khác nhau. Bước vào một lớp 6 sẽ thấy ngay. Có em còn nhỏ như học sinh tiểu học, cao chừng mét ba. Ngồi cạnh là em đã cao mét rưỡi. Hai em bằng tuổi nhau, sinh cùng năm, mà cách nhau đúng hai cỡ số bàn ghế.
Người soạn Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT hiểu chuyện đó, nên chia bảng theo chiều cao chứ không chia theo tuổi hay theo khối lớp. Văn bản này do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Y tế cùng ban hành. Văn bản còn lại nói về chuyện này cũng chia theo chiều cao, không chia theo tuổi. Đó là TCVN 7490:2005 do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành, tên đầy đủ là “Ecgônômi. Bàn ghế học sinh tiểu học và trung học cơ sở. Yêu cầu về kích thước cơ bản theo chỉ số nhân trắc học của học sinh”. Tiêu chuẩn này là loại tự nguyện, không bắt buộc, nhưng cách tiếp cận thì giống: đo người rồi mới ra kích thước.
Cho nên mọi bảng “bàn ghế cho trẻ 6 đến 11 tuổi” mà bạn gặp trên mạng đều là do người viết tự chia ra, không có văn bản nào đứng sau. Con số trong những bảng ấy thường ghi dạng khoảng, kiểu “bàn cao 70 đến 75 cm cho cấp 2”, trong khi cỡ lớn nhất của cả bảng thật cũng chỉ 69 cm.
Sáu cỡ số bàn ghế học sinh gồm những gì?
| Cỡ số | Học sinh cao | Chiều cao bàn | Chiều cao ghế | Hiệu số |
|---|---|---|---|---|
| I | 100 đến 109 cm | 45 cm | 26 cm | 19 cm |
| II | 110 đến 119 cm | 48 cm | 28 cm | 20 cm |
| III | 120 đến 129 cm | 51 cm | 30 cm | 21 cm |
| IV | 130 đến 144 cm | 57 cm | 34 cm | 23 cm |
| V | 145 đến 159 cm | 63 cm | 37 cm | 26 cm |
| VI | 160 đến 175 cm | 69 cm | 41 cm | 28 cm |

Cột hiệu số là chiều cao bàn trừ chiều cao ghế. Đây là con số ít người để ý nhưng quyết định tư thế ngồi. Hiệu số vừa thì cẳng tay đặt lên bàn tự nhiên, vai buông, lưng thẳng. Lớn quá thì em phải nhướn vai lên mới với tới mặt bàn, nhỏ quá thì cúi gập người xuống.
Nhìn cột ấy sẽ thấy nó không cố định, tăng dần từ 19 lên 28 cm. Đó là lý do mua bàn một nơi rồi ghép ghế nơi khác cho rẻ thường hỏng: hai món riêng lẻ đều đúng chuẩn, ghép vào nhau lại sai đúng cái tỷ lệ quan trọng nhất.
Một cấp học ứng với mấy cỡ số?
Thông tư không trả lời câu này, vì nó chia theo chiều cao. Nhưng để hình dung thì đối chiếu thế này:
- Tiểu học trải rộng nhất, từ cỡ I tới cỡ V. Lớp 1 và lớp 5 cách nhau tới bốn cỡ
- Trung học cơ sở thường rơi vào cỡ IV, V và VI
- Trung học phổ thông chủ yếu cỡ V và VI, và có một nhóm đã vượt khỏi bảng
Ba dòng trên là ước lượng để dễ hình dung khi lập dự toán, không phải quy định. Đặt hàng thì vẫn phải đếm theo số đo thật của học sinh trường mình.
Đo chiều cao học sinh thế nào cho đúng?
Trường thường không cần tổ chức đo lại. Thông tư liên tịch 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT về công tác y tế trường học yêu cầu khám sức khoẻ đầu năm cho học sinh, trong đó có đo chiều cao. Hồ sơ ấy chính là bảng số liệu cần dùng, lấy ra đếm xem mỗi cỡ cần bao nhiêu bộ là xong.
Còn đo bàn ghế thì nhớ đo đúng chỗ: chiều cao bàn tính từ sàn lên mép sau mặt bàn, chiều cao ghế tính từ sàn lên mép trước mặt ghế. Thông tư cho sai số 0,5 cm mỗi chiều.

Nhiều mẫu mặt bàn có độ nghiêng nhẹ về phía người ngồi, đo ở mép trước sẽ ra con số thấp hơn thực tế. Đo sai chỗ là lệch cả centimet, đủ để một bộ đúng chuẩn bị ghi thành sai chuẩn trong biên bản nghiệm thu.
Trẻ mầm non tra bảng nào?
Không tra bảng trên được. Thông tư liên tịch 26/2011 chỉ áp cho trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Trẻ mầm non không có dòng nào trong đó, và cỡ I cũng đã dành cho học sinh cao từ một mét.
Thực tế sản xuất thì bàn mầm non của Nội thất Hồng Đức cao 490 đến 500 mm, ghế cao 270 mm. Ví dụ mã HMN01C bàn 900 × 480 × 490 mm đi cùng ghế 370 × 280 × 270 mm, hay mã HMN01D bàn 1200 × 600 × 500 mm cho lớp đông.

Bàn mầm non hay làm mặt hình bông hoa hoặc hình thang để ghép lại thành cụm cho trẻ ngồi quanh, khác hẳn bàn phổ thông kê thẳng hàng. Chọn theo số trẻ mỗi cụm và diện tích phòng, chứ không tra cỡ số. Chọn kiểu mặt bàn, chất liệu và những thứ cần kiểm khi nhận hàng cho lớp mẫu giáo, tôi viết riêng ở bài bàn ghế lớp mẫu giáo.
Học sinh cao hơn 175 cm thì tra ở đâu?
Bảng dừng lại ở 175 cm, và nhóm vượt mức không hề nhỏ. Trong Công văn 4517/BGDĐT-KHTC ngày 22/08/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu con số theo báo cáo của 35 trên 63 tỉnh thành: năm 2024 cả nước có gần 125.000 học sinh cao trên 175 cm. Bộ hướng dẫn Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh phối hợp với cơ quan khoa học công nghệ và y tế để xác định kích thước phù hợp, tham khảo cỡ số VI cùng ba tiêu chuẩn quốc gia. Đáng chú ý là cả ba đều không phải tiêu chuẩn phổ thông: TCVN 3981:1985 là tiêu chuẩn thiết kế trường đại học, TCVN 4602:2012 dành cho trường trung cấp chuyên nghiệp, TCVN 7437:2018 là tiêu chuẩn ecgônômi về nguyên lý thiết kế hệ thống làm việc.
Đọc kỹ thì thấy Bộ đang nói: học sinh cao quá bảng thì hãy đo cho các em như đo cho người trưởng thành. Hồng Đức làm dòng phổ thông ba mức theo cấp học, cao hơn bảng cỡ số một chút: 640 mm cho tiểu học, 700 mm cho cấp 2, 750 mm cho cấp 3 và đại học. Trường nào cần khớp đúng bảng để nghiệm thu thì có dòng làm đúng Thông tư 26, đủ bốn cỡ từ III đến VI.
Chọn đúng cỡ rồi còn phải để ý gì?
Ghế rời hay đi lạc giữa các phòng. Một cái ghế cỡ IV lạc vào phòng dùng cỡ VI là em ngồi phải nhướn vai suốt buổi mà không ai để ý, vì nhìn qua thì cái ghế nào cũng giống cái ghế nào. Với phòng bán trú thì có một ràng buộc riêng: cả phòng phải dùng chung một cỡ. Bàn ghế bán trú xếp lại thành chỗ nằm, các bộ phải ghép được thành mặt phẳng liên tục, trộn nhiều cỡ thì xếp không bằng mặt. Đây là chỗ khác hẳn phòng học thường.
Muốn kiểm tra bàn ghế đang có trong lớp còn vừa với học sinh không, cách làm cụ thể tôi viết ở bài bàn ghế học sinh có vừa với các em không. Riêng hai cấp học có nhiều điều cần bàn hơn, tôi tách thành bài riêng: bàn học cho học sinh cấp 2 và kích thước bàn ghế học sinh cấp 3. Chọn đúng cỡ mới là nửa việc. Bộ bàn ghế được làm ra thế nào, khâu nào quyết định nó dùng được mấy năm, và nên ghi gì vào hồ sơ mời thầu thì xem ở bài quy trình sản xuất bàn ghế học sinh.
Hồng Đức làm bàn ghế học sinh đủ sáu cỡ số, tại Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa, và nhận làm theo số đo riêng cho nhóm học sinh vóc dáng đặc biệt.
Trường đã đo chiều cao học sinh rồi thì gửi bảng thống kê qua 0914 312 295, chúng tôi quy ra cỡ số và số lượng từng cỡ.
Căn cứ
- Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT ngày 16/06/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế hướng dẫn tiêu chuẩn bàn ghế học sinh trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông. Bảng sáu cỡ số và sai số cho phép lấy từ văn bản này.
- Công văn số 4517/BGDĐT-KHTC ngày 22/08/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn bàn ghế học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông.
- Thông tư liên tịch số 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT ngày 12/05/2016 của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về công tác y tế trường học.
- Kích thước bàn ghế mầm non và ba mức chiều cao dòng phổ thông lấy từ hồ sơ kỹ thuật các mã HMN01C, HMN01D, HMN01G và HBH03M của Nội thất Hồng Đức.
