Bàn ghế lớp mẫu giáo không có bảng cỡ số, vậy dựa vào đâu

Không có bảng cỡ số nào cho bàn ghế mẫu giáo. Bảng sáu cỡ mà mọi người hay tra chỉ áp cho tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Thực tế sản xuất thì bàn mẫu giáo cao 490 đến 500 mm, ghế cao 270 mm. Chọn theo hình mặt bàn và chất liệu là chính, không phải theo cỡ số.

Vì sao không tra được cỡ số cho lớp mẫu giáo?

Bảng cỡ số bàn ghế học sinh nằm trong Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT, do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Y tế cùng ban hành. Ngay trong tên văn bản đã ghi rõ phạm vi: trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông. Mầm non không có trong đó.

Cỡ nhỏ nhất của bảng là cỡ I, dành cho học sinh cao từ 100 cm, bàn 45 cm ghế 26 cm. Trẻ mẫu giáo nhiều em chưa tới mức ấy, mà bàn ghế mầm non thực tế lại cao hơn 45 cm. Hai bên không khớp nhau, nên có tra cũng không dùng được.

Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu do Bộ ban hành cũng vậy, ba thông tư hiện hành chỉ có tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Còn TCVN 7490:2005, tiêu chuẩn tự nguyện về kích thước bàn ghế theo chỉ số nhân trắc học, thì ngay trong tên đã ghi phạm vi là tiểu học và trung học cơ sở. Mầm non không phải không có văn bản nào. Thông tư 13/2020/TT-BGDĐT quy định tiêu chuẩn cơ sở vật chất các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông, sửa đổi bởi Thông tư 23/2024/TT-BGDĐT có hiệu lực từ 31/01/2025. Về thiết kế công trình thì có TCVN 3907:2011 dành riêng cho trường mầm non. Nhưng cả hai đều nói về phòng ốc và diện tích, không văn bản nào nói tới kích thước cái bàn cái ghế.

Nói gọn lại: chọn bàn ghế mẫu giáo là việc dựa vào thực tế lớp học và kinh nghiệm sản xuất, không có con số nào để trích vào hồ sơ.

Vậy bàn ghế mẫu giáo cao bao nhiêu?

Đây là kích thước các dòng Nội thất Hồng Đức đang sản xuất:

Mã Loại Kích thước bàn Kích thước ghế
HMN01C Gỗ ghép thanh, mặt chữ nhật 900 × 480 × 490 mm 370 × 280 × 270 mm
HMN01A Composite, chân gấp 900 × 480 × 490 mm 370 × 280 × 270 mm
HMN01G Nhựa cao cấp 900 × 480 × 490 mm 370 × 280 × 270 mm
HMN01D Gỗ công nghiệp, bàn dài 1200 × 600 × 500 mm đặt kèm ghế rời
HMN01H Gỗ công nghiệp, mặt vuông 1000 × 1000 × 490 mm đặt kèm ghế rời
HMN01V Nhựa đúc 1200 × 600 × 500 mm đặt kèm ghế rời

Nhìn cột chiều cao sẽ thấy cả dòng chỉ có hai mức, 490 và 500 mm, ghế thì một mức 270 mm. Khác hẳn bàn ghế phổ thông vốn phải chia sáu cỡ. Lý do đơn giản: một lớp mẫu giáo chỉ trong khoảng ba tuổi, chênh lệch vóc dáng chưa lớn tới mức phải chia cỡ. Sang tiểu học, khoảng cách giữa lớp 1 và lớp 5 mới rộng ra tới bốn cỡ số.

Chọn mặt bàn hình gì?

Ba kiểu bàn ghế mầm non gỗ tự nhiên: bàn tròn ghép sáu ghế, bàn tròn lớn và bàn vuông bốn ghế

Đây mới là quyết định thật sự khi mua, chứ không phải chiều cao. Mặt tròn hoặc mặt hoa cho trẻ ngồi quây quanh, cô giáo đứng giữa nói chuyện với cả nhóm. Hợp với hoạt động kể chuyện, chơi ghép hình, ăn bữa phụ. Nhược điểm là chiếm diện tích hơn so với số chỗ ngồi.

Mặt chữ nhật ghép được thành dãy dài hoặc tách ra thành từng cụm nhỏ tuỳ buổi. Đây là loại linh hoạt nhất, và cũng dễ kê sát tường khi cần lấy chỗ trống cho trẻ vận động. Mặt vuông lớn kiểu 1000 × 1000 mm ngồi được bốn phía, hợp với lớp học theo phương pháp cho trẻ tự chọn góc hoạt động.

Phòng học mầm non lắp bàn ghế gỗ tự nhiên kê thành nhiều cụm nhỏ, kệ đồ chơi thấp dọc tường, cửa sổ lớn lấy sáng

Chọn hình mặt bàn nên bắt đầu từ cách cô tổ chức hoạt động trong ngày, rồi mới tính tới số trẻ và diện tích phòng. Mua đúng kiểu bàn mà lớp không dùng tới cách kê đó thì bàn nằm sát tường quanh năm.

Gỗ, nhựa hay composite?

Gỗ tự nhiên ghép thanh nặng và bền nhất, mặt bàn xước thì chà lại được. Đổi lại thì cô giáo khó tự xê dịch một mình. Nhựa cao cấp và nhựa đúc nhẹ, lau nhanh, trẻ tự kéo ghế được. Vết bút màu trên nhựa lau sạch dễ hơn trên gỗ nhiều. Nhược điểm là va mạnh lâu ngày dễ nứt ở chỗ bắt vít.

Composite chân gấp hợp với phòng phải dọn trống buổi chiều để trải nệm ngủ trưa. Gấp lại xếp chồng vào góc, một cô làm được, không cần khiêng. Gỗ công nghiệp nằm giữa: nhẹ hơn gỗ tự nhiên, giá dễ chịu, bề mặt phẳng đẹp. Với loại này thì phải xem kỹ cạnh bàn có dán biên kín không, vì trẻ hay gặm và tì tay lên cạnh.

An toàn thì kiểm những gì?

Bốn thứ, kiểm được ngay lúc nhận hàng:

  • Góc và cạnh bo tròn, không còn cạnh sắc. Đưa lòng bàn tay miết dọc cạnh bàn, thấy gợn là chưa đạt
  • Ốc vít chìm hoặc có nắp che, không để đầu vít nhô ra chỗ trẻ chạm tới
  • Ghế không lật khi trẻ dồn trọng lượng ra trước. Ấn thử vào mép trước mặt ghế xem chân sau có nhấc lên không
  • Trẻ tự kéo được ghế của mình. Ghế nặng quá thì cô phải làm thay, mất luôn phần rèn tự lập

Về chất liệu bề mặt, nên yêu cầu bên bán nêu rõ loại sơn hoặc lớp phủ và kèm giấy chứng nhận của lô hàng. Đây là chỗ nên hỏi bằng văn bản chứ không hỏi miệng.

Mua cho trường thì đặt bao nhiêu bộ?

Đếm theo số trẻ mỗi lớp và cách kê định dùng, cộng thêm phần dự phòng cho lớp đông đột xuất đầu năm. Một mẹo thực tế: đừng mua đủ một kiểu bàn cho cả trường. Mỗi khối lớp thử một kiểu mặt bàn trong năm đầu, xem cô nào dùng kiểu nào thuận tay, rồi năm sau mới đặt số lượng lớn. Bàn ghế mầm non dùng được nhiều năm, chọn sai kiểu thì chịu suốt thời gian ấy.

Khi trẻ lên tiểu học thì bắt đầu phải tra bảng cỡ số. Cách tra và cách đếm số lượng từng cỡ tôi viết ở bài chọn bàn ghế học sinh theo chiều cao.

Bàn ghế lớp mẫu giáo ở đây do Hồng Đức làm tại Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa, kích thước theo lứa tuổi từng lớp chứ không theo bảng cỡ số phổ thông.

Trường mầm non gọi 0914 312 295 và nói rõ lớp mấy tuổi, chúng tôi đề xuất cỡ cho vừa.

Căn cứ

  • Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT ngày 16/06/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế. Phạm vi áp dụng nêu ngay trong tên văn bản là trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông.
  • TCVN 3907:2011 Trường mầm non – Tiêu chuẩn thiết kế. Đây là tiêu chuẩn thiết kế công trình, không quy định kích thước bàn ghế.
  • Kích thước trong bảng lấy từ hồ sơ kỹ thuật các mã HMN01A, HMN01C, HMN01D, HMN01G, HMN01H và HMN01V của Nội thất Hồng Đức.