Bảng trượt 3 tấm, khi nào nên chọn thay vì 2 hay 4 tấm

Bảng trượt 3 tấm hợp nhất với phòng học không lắp tivi, khi nhà trường muốn một mảng viết dài liền mạch mà vẫn trượt được.

Phòng có tivi ở giữa tường thì cấu hình 4 tấm tiện hơn. Tường ngắn dưới 3m6 thì 2 tấm là đủ.

Bảng trượt 3 tấm khác 2 tấm và 4 tấm ở chỗ nào?

Khác ở chỗ có một tấm nằm giữa.

Bảng trượt ngang ba tấm nhìn chếch, thấy rõ tấm giữa chạy trên lớp ray phía trước, hai tấm hai bên ở lớp sau

Nhìn chếch từ bên cạnh sẽ thấy rõ: tấm giữa chạy trên lớp ray phía trước, hai tấm hai bên nằm ở lớp sau. Khi khép lại, ba mặt bảng nằm cạnh nhau thành một dải liền. Khi cần thì kéo tấm giữa sang một bên.

Cấu hình chẵn thì khác hẳn. Bảng 2 tấm chỉ có một chỗ để trượt. Bảng 4 tấm thường chừa khoang giữa cho tivi, hai tấm giữa kéo ra kéo vào che màn hình.

Nói gọn: số tấm lẻ cho một trung tâm, số tấm chẵn cho một khoảng trống ở giữa. Trường có tivi thì cần khoảng trống ấy, trường không có tivi thì cần mặt viết.

Cấu hình Hợp với phòng Chừa khoang giữa cho tivi Điểm mạnh
2 tấm Tường dưới 3m6 Không Gọn nhất, ít chi tiết nhất
3 tấm Không lắp tivi, cần mặt viết liền Không Có một tấm giữa làm trung tâm bài giảng
4 tấm Có tivi ở giữa tường Có Mỗi tấm ngắn nên kéo nhẹ tay

Khi nào 3 tấm là lựa chọn đúng?

Ba trường hợp hay gặp:

  • Phòng chưa lắp tivi và chưa có kế hoạch lắp. Cả mảng tường dành hết cho mặt viết, không phải chừa khoang nào
  • Môn học cần giữ phần khung bài trên bảng suốt tiết. Ghi định lý hay công thức vào tấm giữa rồi để nguyên đó, chữa bài tập ở hai tấm bên
  • Tường dài hơn 3m6 nhưng chưa tới mức phải dùng 4 tấm. Chia ba thì mỗi tấm ngắn hơn so với chia đôi cùng chiều dài ấy, kéo nhẹ tay hơn

Bảng trượt ba tấm đã lắp trên tường lớp học, ba mặt bảng xanh khép sát nhau dưới khẩu hiệu Thi đua dạy tốt học tốt

Ngược lại, nếu phòng đã có tivi hoặc sắp lắp thì nên tính luôn theo cấu hình 4 tấm. Cách chọn chiều dài bảng theo cỡ tivi tôi viết ở bài phòng đã có tivi thì đặt bảng dài bao nhiêu.

Cấu tạo gồm những gì?

Ba phần, và phần nào cũng nên hỏi cho rõ trước khi đặt. Khung bảng làm bằng sắt hộp 25 × 50 mm sơn tĩnh điện, màu trắng hoặc màu ghi. Đây là phần giữ cho cả bộ không xệ và không rỉ. Hỏi bên bán loại sắt và độ dày, đừng chấp nhận câu “khung chắc chắn” chung chung.

Ray trượt làm bằng nhôm chuyên dụng, gắn ở cạnh trên và cạnh dưới. Hai ray phải thẳng và song song, lệch một chút là tấm bảng chạy nặng hoặc kẹt về một phía. Mặt bảng là bảng từ xanh viết phấn hoặc bảng từ trắng viết bút dạ, mặt bảng Hồng Đức nhập của hãng Dongbu Hàn Quốc. Bánh xe gắn trên thành bảng, chạy trên ray. Ghép được cả bảng ghim vào cùng hệ nếu trường cần chỗ đính tài liệu.

Một điểm về cách làm đáng để ý: khung ray và tấm bảng là hai hệ riêng biệt. Hỏng tấm nào thì thay tấm đó, không phải tháo cả bộ xuống. Chi tiết hơn về ray, cơ cấu hãm và chốt chặn đầu ray thì xem ở bài bảng trượt thông minh: cấu tạo và chiều cao treo.

Đặt hàng thì cần hỏi rõ điều gì?

Một câu mà rất ít người hỏi: tấm nào cố định và tấm nào trượt? Cùng gọi là bảng 3 tấm nhưng mỗi xưởng làm một kiểu. Hệ 3 tấm của Hồng Đức để hai tấm ngoài cố định, tấm giữa trượt được sang cả hai bên. Có xưởng làm kiểu khác. Không hỏi rõ thì tới lúc lắp mới phát hiện bảng không dùng được theo cách cô giáo định dùng.

Kèm theo đó là mấy dòng nên ghi vào hồ sơ:

  • Chiều dài tổng và chiều dài từng tấm
  • Loại mặt bảng của từng tấm: từ xanh, từ trắng hay bảng ghim
  • Vật liệu và tiết diện khung, vật liệu ray
  • Chiều cao treo mép dưới theo cấp học của trường

Dòng cuối hay bị bỏ qua. Mép dưới bảng phải cách sàn 0,65 đến 0,8 m ở tiểu học theo TCVN 8793:2011, và 0,8 đến 1,0 m ở trung học theo TCVN 8794:2011. Cả hai là tiêu chuẩn quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, áp dụng tự nguyện, nhưng bên thiết kế thường lấy làm căn cứ vẽ bản vẽ.

Còn khi trường làm hồ sơ công nhận trường chuẩn quốc gia thì phần cơ sở vật chất đối chiếu theo Thông tư 13/2020/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc kê bàn ghế so với bảng thì có TCVN 7491:2005, trong đó yêu cầu góc nhìn lên bảng không nhỏ hơn 30 độ và hàng bàn cuối cách bảng không quá 8 m.

Bảng 3 tấm có phổ biến không?

Nói thật thì 2 tấm và 4 tấm được đặt nhiều hơn, chủ yếu vì phần lớn phòng học mới đều lắp tivi, mà tivi thì hợp với cấu hình chẵn. Nhưng phổ biến hơn không có nghĩa là đúng hơn cho phòng của mình. Trường chưa lắp tivi mà mua bảng 4 tấm thì khoang giữa bỏ trống, mất một phần mặt viết chẳng để làm gì. Đếm theo nhu cầu thật của phòng, đừng đếm theo cái người khác hay mua.

So sánh kỹ hai cấu hình chẵn thì xem bài so sánh bảng trượt 2 tấm và 4 tấm.

Bảng trượt 3 tấm ở đây do Hồng Đức làm tại Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa, và số tấm đặt được theo bề ngang tường thật.

Phân vân giữa 2, 3 hay 4 tấm thì gọi 0914 312 295 đọc bề ngang tường cho chúng tôi. Con số đó thường tự quyết luôn.

Căn cứ

  • TCVN 8793:2011 Trường tiểu học – Yêu cầu thiết kế, mục 5.2.6: chiều cao mép dưới bảng 0,65 đến 0,8 m.
  • TCVN 8794:2011 Trường trung học – Yêu cầu thiết kế, mục 5.2.12: chiều cao mép dưới bảng 0,8 đến 1,0 m.
  • TCVN 7491:2005 Ecgônômi – Bố trí bàn ghế học sinh trong phòng học, mục 3.6 và 3.7: góc nhìn không nhỏ hơn 30 độ, hàng bàn cuối cách bảng không quá 8 m.
  • Ba tiêu chuẩn trên là tiêu chuẩn quốc gia, áp dụng tự nguyện, không phải quy chuẩn bắt buộc.
  • Tiết diện khung sắt hộp 25 × 50 mm, vật liệu ray và cách bố trí bánh xe lấy từ hồ sơ kỹ thuật sản phẩm bảng trượt của Nội thất Hồng Đức.
  • Mốc 3m6 để chuyển từ bảng 2 tấm sang cấu hình nhiều tấm hơn là khuyến nghị của công ty, rút từ các phòng đã lắp đặt.