Bàn học sinh cấp 3 của Nội thất Hồng Đức cao 750 mm, ghế cao 460 mm.
Con số này cao hơn mức lớn nhất trong bảng cỡ số tới 60 mm. Chênh lệch đó là chủ ý, không phải sơ suất, và bài này giải thích vì sao.
Bảng cỡ số dừng lại ở 175 cm
Bảng cỡ số bàn ghế học sinh mà cả ngành đang dùng ban hành năm 2011. Sáu cỡ, và cỡ lớn nhất dành cho học sinh cao 160 đến 175 cm, bàn 690 mm, ghế 410 mm. Nghe thì đủ. Nhưng học sinh mười bảy mười tám tuổi cao vượt 175 cm bây giờ là chuyện thường. Với những em ấy, bảng cỡ số không còn dòng nào để tra.
Đây không phải cảm nhận riêng của người bán hàng. Tháng 8 năm 2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công văn 4517/BGDĐT-KHTC gửi giám đốc sở giáo dục các tỉnh, kèm một con số đáng chú ý: theo báo cáo của 35 trên 63 tỉnh thành, năm 2024 cả nước có gần 125.000 học sinh cao trên 175 cm. Xin nhấn lại: đó mới là số liệu của hơn một nửa số tỉnh.
Cũng trong công văn ấy, Bộ hướng dẫn các sở phối hợp với cơ quan khoa học công nghệ và y tế để xác định kích thước cho nhóm học sinh này, tham khảo cỡ số VI cùng các tiêu chuẩn TCVN 3981:1985, TCVN 4602:2012 và TCVN 7437:2018. Nói cách khác, chính Bộ cũng thừa nhận bảng cỡ số hiện hành chưa phủ hết học sinh ngày nay. Hậu quả thì chẳng cần đo đạc gì cũng thấy. Em ngồi bàn thấp quá phải khom lưng mới viết được, một tiết còn chịu được, cả buổi thì mỏi. Đầu gối chạm gầm bàn nên phải xoay chân chéo ra lối đi. Đến lúc gọi lên bảng, em phải lách người ra khỏi bộ bàn ghế vốn không dành cho vóc dáng của mình. Và cái tư thế ấy giữ suốt ba năm cấp 3.
Hồng Đức chọn 750 mm cho cả dòng cấp 3, nâng ghế lên 460 mm cho cân với mặt bàn. Con số này rút ra từ những lớp học đã lắp đặt, không chép từ văn bản nào.
Nâng bàn thì phải nâng cả ghế
Chiều cao bàn đứng một mình chưa nói lên điều gì. Thứ quyết định em ngồi có thoải mái hay không là khoảng cách giữa mặt bàn với mặt ghế. Trong nghề gọi là hiệu số.
Hiệu số vừa vặn thì cẳng tay đặt lên bàn tự nhiên, vai buông, lưng thẳng. Lớn quá, em phải nhướn vai mới với tới mặt bàn. Nhỏ quá thì lại cúi gập người xuống. Kiểu nào cũng để lại dấu vết trên cột sống và thị lực nếu giữ đủ lâu.
Cho nên nâng bàn mà quên nâng ghế là hỏng. Đây cũng là chỗ hay bị bỏ sót khi mua sắm: nhà trường hỏi rất kỹ chiều cao bàn nhưng quên hỏi chiều cao ghế. Tệ hơn là mua bàn nơi này rồi ghép ghế nơi khác cho rẻ, tưởng tiết kiệm mà hỏng đúng cái tỷ lệ quan trọng nhất.
Các mã bàn ghế cấp 3 đang sản xuất
| Mã | Kiểu | Kích thước bàn |
|---|---|---|
| HBH31G | Liền ghế 2 chỗ, không tựa | 1200 × 400 × 750 mm |
| HBH32M | Liền ghế 2 chỗ, có tựa | 1200 × 400 × 750 mm |
| HBH33M | Bàn ghế rời 2 chỗ | 1200 × 400 × 750 mm |
| HBH34G | Liền ghế 4 chỗ, không tựa | 2000 × 400 × 750 mm |
| HBH35M | Liền ghế 4 chỗ, có tựa | 2000 × 400 × 750 mm |
| HGD04M | Ghế rời | 360 × 360 × 440 mm |
Đuôi G là mặt gỗ tự nhiên ghép thanh, đuôi M là gỗ công nghiệp MFC nhập khẩu. Khung chân cả dòng đều là sắt hộp sơn tĩnh điện.

Chọn bàn hai chỗ hay bốn chỗ thì tuỳ từng phòng. Bàn bốn chỗ kê được nhiều em hơn trên cùng một mét dài, hợp lớp đông mà phòng chật. Bàn hai chỗ nhẹ, dễ xê dịch, tiện cho lớp hay kê lại theo nhóm.

Gặp em cao vượt hẳn thì làm sao
Trường nào cũng có vài em cao vượt trội so với bạn cùng khối. Không cần đo cả trường, chỉ cần rà đúng những em ấy rồi ghi số đo thật vào yêu cầu đặt hàng. Một buổi đo đáng giá hơn mọi phỏng đoán trên giấy.
Chỗ ngồi cũng nên xếp theo chiều cao. Các em cao nhất ngồi cuối lớp, lý do dễ thấy là đỡ che tầm nhìn bạn phía sau. Còn lý do ít ai để ý: hàng cuối thường rộng hơn, đủ chỗ duỗi chân.
Khi cả một nhóm học sinh cùng vượt mức, Hồng Đức nhận làm theo số đo riêng. Nhớ ghi kích thước vào hợp đồng để lúc nhận hàng còn có cái đối chiếu.
Trường cần đúng cỡ số thì vẫn có
Một số hồ sơ mua sắm bằng ngân sách yêu cầu bàn ghế khớp đúng bảng cỡ số, không xê dịch. Hai cỡ áp cho cấp 3 là cỡ V, bàn 630 mm ghế 370 mm, và cỡ VI, bàn 690 mm ghế 410 mm. Hồng Đức giữ sẵn dòng HBH05 và HBH06 làm đúng hai mức này, nên trường cần nghiệm thu chặt vẫn có hàng.

Nhân đây nói một chỗ hay bị ghi sai. Nhiều tài liệu trên mạng viết “tiêu chuẩn bàn ghế theo quy định Bộ Y tế”, nghe quen tai đến mức ít ai nghi ngờ. Thực ra văn bản do ba bộ cùng ban hành: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế. Trích vào hồ sơ thầu mà ghi thiếu hai bộ kia là chưa chuẩn.
Muốn tra cỡ số theo chiều cao cho đủ cả sáu cỡ thì xem bài tra cỡ số bàn ghế học sinh theo chiều cao, còn bảng áp cho cả ba cấp học nằm ở bài chọn bàn ghế học sinh theo chiều cao. Thông số đầy đủ của cả bốn cỡ có ở trang dòng bàn ghế làm đúng Thông tư 26.
Nội thất Hồng Đức trực tiếp sản xuất bàn ghế cho học sinh trung học phổ thông và sinh viên, tại Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa. Nhà máy chạy theo hệ thống ISO 9001:2015, sản phẩm bảo hành 12 tháng.
Trường có nhóm học sinh vóc dáng đặc biệt thì gọi cho chúng tôi theo số 0914 312 295, công ty nhận làm theo số đo riêng.
Căn cứ
- Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT ngày 16/06/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế hướng dẫn tiêu chuẩn bàn ghế học sinh trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông.
- Thông số kích thước lấy từ hồ sơ kỹ thuật các mã HBH31G, HBH32M, HBH33M, HBH34G, HBH35M và HGD04M của Nội thất Hồng Đức.
- Công văn số 4517/BGDĐT-KHTC ngày 22/08/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn bàn ghế học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông theo Thông tư liên tịch 26/2011.
