Trung tâm và lớp học thêm không bắt buộc theo bảng cỡ số của Thông tư liên tịch 26/2011. Văn bản ấy áp cho trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Nhưng đổi lại, trung tâm gặp hai bài toán mà trường không có: một phòng dạy nhiều lứa tuổi, và mặt bằng thường đi thuê. Hai chuyện này quyết định gần như toàn bộ việc chọn bàn ghế.
Bài toán thứ nhất, một phòng, nhiều lứa tuổi
Trường phổ thông kê mỗi phòng một cỡ, vì cả lớp cùng khối. Trung tâm thì ca sáng dạy lớp 3, ca chiều dạy lớp 9, cùng một phòng. Chiều cao bàn theo cấp học chênh nhau không nhỏ. Bàn tiểu học cao 640 mm, cấp 2 là 700 mm, cấp 3 là 750 mm. Chênh hơn một tấc giữa hai đầu.
Có ba cách xử lý, và mỗi cách có cái giá của nó. Lấy cỡ trung gian. Chọn bàn cấp 2 cao 700 mm cho cả phòng. Học sinh lớn hơi thấp một chút, học sinh nhỏ hơi cao một chút, nhưng không ai quá lệch. Đây là cách đơn giản nhất và phần lớn trung tâm chọn nó.
Chia phòng theo lứa tuổi. Nếu trung tâm có từ hai phòng trở lên, xếp phòng nhỏ cho lớp nhỏ. Cách này tốt nhất cho học sinh, nhưng ràng buộc lịch xếp lớp.
Dùng ghế rời thay ghế liền bàn. Ghế rời cho phép kê thêm đệm hoặc bục kê chân với các em nhỏ. Không hoàn hảo, nhưng linh hoạt hơn bộ liền.
Bài toán thứ hai, mặt bằng đi thuê
Đây là chỗ khác hẳn trường. Trường sở hữu phòng và tính bằng chục năm. Trung tâm thuê nhà, và hợp đồng thuê có thể là ba năm.
Nghĩa thực tế khi chọn đồ:
- Tháo lắp và vận chuyển được. Bộ bàn ghế liền khối chắc chắn hơn, nhưng chuyển địa điểm là cả vấn đề
- Không khoan vào tường nhiều. Bảng, kệ, tủ nên chọn loại đứng hoặc di động thay vì gắn cố định
- Đi qua được cửa và cầu thang. Nhà phố cho thuê thường có cầu thang hẹp. Bàn 4 chỗ dài 2000 mm là khiêng không lọt
Chuyện cầu thang nên hỏi trước khi đặt, không phải hôm xe chở hàng tới.
Bàn rời hay bàn liền ghế
Với trung tâm, câu trả lời gần như luôn là bàn rời. Lý do không phải chất lượng mà là cách lớp vận hành. Lớp ngoại ngữ đổi cách kê liên tục: lúc ngồi hàng nghe giảng, lúc quay lại thành cặp luyện nói, lúc dồn thành nhóm bốn. Bộ liền ghế thì cả khối phải khiêng, mà nó nặng.
Bàn rời cũng dễ dồn lại lấy chỗ trống khi phòng cần dùng vào việc khác. Nhiều trung tâm dùng chung một phòng cho cả lớp học lẫn buổi họp phụ huynh.
Khi nào ghế gấp là lựa chọn đúng
Ghế gấp có tiếng là ghế tạm, nhưng với một số trung tâm nó lại hợp lý. Xưởng có nhiều mẫu, cỡ từ 440 × 470 × 780 mm của GG08S tới 480 × 490 × 770 mm của GG09S. Riêng GG04BS cỡ 500 × 720 × 880 mm là ghế gấp liền bàn, có mặt bàn viết gắn thẳng vào ghế.
Loại liền bàn ấy đáng cân nhắc khi trung tâm mở lớp theo mùa, hoặc mượn hội trường làm lớp: dùng xong xếp lại cất vào kho, phòng trống trơn. Nhưng nói cho thật: ghế gấp không dành để ngồi cả buổi. Mặt phẳng, tựa mỏng. Nó hợp buổi hội thảo hai tiếng hơn là ca học đều đặn mỗi tuần ba buổi.
Chuyện cỡ số, nói cho rõ
Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế ban hành, quy định 6 cỡ số theo chiều cao học sinh. Phạm vi áp dụng là trường phổ thông. Trung tâm tư nhân không bị ràng buộc. Nhưng bảng ấy vẫn đáng dùng làm mốc, vì nó tính theo chiều cao người ngồi chứ không theo loại hình cơ sở. Học sinh cao 130 cm thì ngồi bàn nào cũng vậy, dù ở trường hay ở trung tâm.
Cách tra cỡ theo chiều cao có ở bài chọn bàn ghế học sinh theo chiều cao.
Ba thứ nên chốt trước khi đặt
- Lứa tuổi nhỏ nhất và lớn nhất sẽ học trong cùng một phòng. Hai con số này quyết định cỡ bàn
- Chiều rộng cầu thang và cửa, nếu mặt bằng không ở tầng trệt
- Lớp có hay đổi cách kê không. Có thì lấy bàn rời, không thì bộ liền cũng được
Phần chọn chất liệu mặt bàn và bốn thứ cần soi trong báo giá có ở bài mua bàn ghế học sinh, kiểm gì trước khi ký.
Nội thất Hồng Đức làm bàn ghế rời, bàn liền ghế và ghế gấp tại Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa, đủ ba bậc chiều cao theo cấp học.
Trung tâm chưa chắc nên lấy cỡ nào thì gọi 0914 312 295, nói rõ lứa tuổi nhỏ nhất và lớn nhất trong phòng. Hai con số đó thường tự quyết luôn.
Căn cứ và nguồn số liệu
- Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT ngày 16/06/2011, phạm vi áp dụng và bảng 6 cỡ số theo chiều cao học sinh.
- Chiều cao bàn theo cấp học và kích thước các mẫu ghế gấp lấy từ hồ sơ sản phẩm của Công ty Cổ phần Thiết bị giáo dục Hồng Đức.
- Phần bài toán mặt bằng đi thuê và cách kê lớp là kinh nghiệm tư vấn thực tế, không phải quy định.
Bài do bộ phận kinh doanh Công ty Cổ phần Thiết bị giáo dục Hồng Đức biên soạn, dựa trên hồ sơ sản phẩm và thực tế trang bị cho trung tâm, lớp học thêm tại Thanh Hóa và các tỉnh lân cận.


