Bàn thí nghiệm trường học có hai chiều cao, và đây là chỗ chọn nhầm nhiều nhất. Bàn 750 mm để học sinh ngồi, bàn 850 mm để đứng làm.
Hai loại này đi với hai loại ghế khác nhau. Mua bàn 850 rồi kê ghế thường là các em không với tới mặt bàn.

Bảng bàn thí nghiệm theo vai trò
| Dùng cho | Kích thước | Mã vật lý | Mã hoá sinh |
|---|---|---|---|
| Học sinh, bàn ngồi 2 chỗ | 1200 × 600 × 750 | HTNLS2C | HTNHS2 |
| Học sinh, bàn ngồi dài | 2200 × 600 × 750 | HTNLS3H | HTNHS3 |
| Học sinh, bàn đứng | 1200 × 1000 × 850 | HTNLS1C | HTNHS1C |
| Giáo viên | 1200 × 600 × 750 | HTNLV2C | HTNHV1C |
| Giáo viên, bản rộng | 1400 × 600 × 750 | HTNLV4C | HTNHV4 |
| Bàn biểu diễn | 1400 × 600 × 750 | HTNLV3M | HTNHV3 |
| Bàn chuẩn bị | 2400 × 1200 × 750 | HTNLV5C | HTNHV5 |
Nhìn bảng sẽ thấy hai chuyện tiện khi lập dự toán. Thứ nhất, dòng vật lý và dòng hoá sinh cùng kích thước, chỉ khác mã. Trường làm cả hai phòng thì bố trí giống nhau được.
Thứ hai, bàn chuẩn bị to nhất, 2400 × 1200 mm. Đây là bàn đặt trong phòng chuẩn bị chứ không phải trong phòng học, và nó chiếm chỗ bằng bốn bàn học sinh.
Bàn 750 và bàn 850 khác nhau thế nào
Chênh 100 mm nghe nhỏ nhưng đổi hẳn cách dùng phòng. Bàn 750 mm. Cùng chiều cao bàn học sinh cấp 3. Học sinh ngồi ghế thường, làm thí nghiệm ngay tại chỗ ngồi. Hợp thí nghiệm ngắn, ít thao tác.
Bàn 850 mm, mã HTNLS1C và HTNHS1C. Bề sâu cũng rộng hơn, 1000 mm thay vì 600. Học sinh đứng làm, hoặc ngồi ghế cao. Hợp thí nghiệm phải thao tác nhiều, nhìn từ trên xuống.
Bàn 850 sâu 1000 mm còn một lợi thế nữa: hai nhóm ngồi hai bên cùng một bàn, mỗi bên đủ chỗ làm mà không chạm tay nhau.
Ghế phải chọn theo bàn
Đây là chỗ hay mua lệch nhất, vì ghế thường đặt sau và đặt riêng.
| Ghế | Kích thước | Đặc điểm |
|---|---|---|
| HGD06A | 270 × 500 mm | Ghế không tựa, mặt gỗ công nghiệp MFC, 4 chân sắt hộp |
| HGD06B | 270 × 570 mm | Cao hơn, có 4 thanh ngang kê chân |
Chi tiết đáng để ý là thanh ngang kê chân của HGD06B. Ghế cao mà không có chỗ gác chân thì chân học sinh treo lơ lửng, ngồi một tiết là mỏi. Nên ghép theo nguyên tắc này: bàn 750 đi với ghế thấp hơn, bàn 850 đi với ghế cao có kê chân. Ghi cả hai dòng vào đơn hàng, đừng chỉ ghi số lượng bàn.

Điện và nước phải quyết trước khi xây
Đây là phần khiến bàn thí nghiệm khác hẳn mọi loại bàn khác, và cũng là phần sửa sau thì rất tốn. Bàn học sinh hoá sinh mã HTNHS3 có sẵn trong cấu tạo:
- Điện áp 220V và nguồn 0 đến 24V, cả một chiều lẫn xoay chiều, lấy từ nguồn điều khiển trung tâm
- Ổ cắm trên mặt bàn
- Một chậu rửa và một vòi nước
Nghĩa là vị trí bàn quyết định vị trí đường nước và đường điện. Kê bàn xong mới đi ống là phải đục lại sàn hoặc chạy ống nổi. Nên khi làm phòng, chốt bản vẽ kê bàn trước khi bên điện nước vào làm. Phần thứ tự công việc này nói kỹ ở bài kích thước bàn ghế thí nghiệm.
Tủ và thiết bị phụ, mỗi thứ một việc
| Thiết bị | Mã | Kích thước |
|---|---|---|
| Tủ hút khí độc để bàn | HTN24 | 600 × 400 × 800 mm |
| Tủ hút khí độc đứng sàn | HTN26, HTN26B | 1200 × 750 × 2040 mm |
| Tủ đựng hoá chất | HTN25 | 800 × 600 × 1760 mm |
| Tủ đựng hoá chất cao | HTN25B | 800 × 500 × 2100 mm |
| Tủ đựng dụng cụ | HTS05 | 1000 × 460 × 1830 mm |
| Bồn rửa đôi | HTN32 | 1010 × 425 × 750 mm |
| Xe đẩy | HTN33 | 600 × 460 × 800 mm |
| Quạt hút khí độc | HTN23 | 1100 × 220 × 400 mm |
Hai con số cần đo trần trước khi đặt: tủ hút khí độc HTN26 cao 2040 mm và tủ hoá chất HTN25B cao 2100 mm. Phòng trần thấp hoặc có dầm ngang thì phải kiểm trước, vì đây là đồ không cắt ngắn được. Xe đẩy HTN33 là món hay bị bỏ quên khi lập danh sách. Không có nó thì giáo viên bê dụng cụ từ phòng chuẩn bị sang phòng học bằng tay, mỗi tiết vài lượt.

Kê giữa phòng hay áp tường
Hai cách bố trí, chọn theo môn dạy chứ không theo diện tích. Kê giữa phòng. Học sinh đứng quanh bàn, giáo viên đi được bốn phía. Hợp bàn 850 sâu 1000 mm, vì bàn ấy vốn thiết kế cho hai bên cùng làm.
Áp tường. Tiết kiệm chỗ, và tiện đi đường điện nước vì ống chạy dọc tường. Nhưng giáo viên chỉ tới được một phía, khó quan sát thao tác của học sinh.
Phòng nào cũng nên dành một khoảng trống ở giữa. Khi có sự cố đổ hoá chất thì lối thoát là thứ quan trọng hơn số chỗ ngồi.
Ba việc làm trước khi gửi yêu cầu báo giá
- Chốt bàn 750 hay 850, vì nó kéo theo loại ghế và cách kê
- Đo chiều cao trần, đối chiếu với tủ cao 2040 và 2100 mm
- Đếm số chỗ cần có điện và nước, không phải số bàn
Việc thứ ba hay bị làm ngược. Một bàn dài 2200 mm phục vụ nhiều học sinh nhưng có thể chỉ có một chậu rửa, nên đếm theo bàn là thiếu.
Nội thất Hồng Đức sản xuất bàn ghế và tủ thí nghiệm tại Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa, và nhận thi công trọn gói phòng thí nghiệm trường học.
Trường gọi 0914 312 295, nói số đo phòng, sĩ số một ca và môn sẽ dạy. Chúng tôi phác cách kê kèm vị trí điện nước trước, rồi mới bàn tới danh mục và giá.
Ghi chú về số liệu
- Toàn bộ mã sản phẩm và kích thước trong bài lấy từ hồ sơ sản phẩm đang đăng của Công ty Cổ phần Thiết bị giáo dục Hồng Đức, rà ngày 12/09/2026. Gồm các mã HTNLS1C, HTNLS2C, HTNLS3H, HTNHS1C, HTNHS2, HTNHS3, HTNLV2C, HTNLV3M, HTNLV4C, HTNLV5C, HTNHV1C, HTNHV3, HTNHV4, HTNHV5, HGD06A, HGD06B, HTN23, HTN24, HTN25, HTN25B, HTN26, HTN26B, HTN32, HTN33 và HTS05.
- Thông số điện áp 220V, nguồn 0 đến 24V, ổ cắm, chậu rửa và vòi nước lấy từ hồ sơ mã HTNHS3.
- Phần so sánh cách kê giữa phòng với áp tường, và ba việc làm trước khi báo giá, là kinh nghiệm lắp đặt tại xưởng, không phải quy định bắt buộc.
- Bài không nêu giá vì giá phụ thuộc chất liệu mặt bàn, số lượng và khoảng cách tới trường.
Bài do bộ phận kinh doanh Công ty Cổ phần Thiết bị giáo dục Hồng Đức biên soạn, dựa trên hồ sơ sản phẩm và thực tế lắp đặt phòng thí nghiệm cho trường học tại Thanh Hóa và các tỉnh lân cận.
