Chọn bàn vi tính cho phòng tin học của trường thật ra chỉ cần trả lời hai câu. Câu thứ nhất là phòng này của cấp học nào, vì tiểu học dùng bàn cao 640 mm còn từ trung học cơ sở trở lên dùng 750 mm. Câu thứ hai là một máy một chỗ hay hai chỗ chung một bàn, vì xưởng làm cả hai kiểu và mỗi chỗ ngồi đều rộng 600 mm.
Trả lời xong hai câu ấy thì chỉ còn vài mã để chọn, và phần còn lại là chuyện vách ngăn với chất liệu mặt bàn.

Trước hết là cấp học, vì chiều cao không sửa được
Trong cả dòng bàn máy tính của xưởng chỉ có đúng một mã hạ chiều cao xuống cho học sinh nhỏ, đó là HBT05 cao 640 mm, tên đầy đủ ghi thẳng là bàn vi tính tiểu học. Tất cả các mã còn lại đều cao 750 mm, tức chiều cao bàn làm việc của người lớn. Chênh nhau 110 mm nghe thì ít, nhưng đặt một học sinh lớp ba vào bàn 750 rồi nhìn từ bên hông sẽ thấy hai vai cháu phải nhấc lên để với tới bàn phím, khuỷu tay không tì được vào đâu và chân thường không chạm sàn. Đây lại là thứ duy nhất trong cả cái bàn không sửa được sau khi lắp, mặt xước thì thay mặt được, ray kẹt thì thay ray được, còn bàn cao quá thì phải ngồi với nó suốt mười năm.
Vì vậy lỗi hay gặp nhất là trường tiểu học nhìn ảnh phòng tin học của trường cấp hai rồi đặt đúng mẫu ấy. Ảnh thì đẹp thật, nhưng nó không cho thấy mặt bàn cách sàn bao nhiêu.

Một chỗ hay hai chỗ, chọn theo cách dạy
Xưởng làm mỗi chỗ ngồi rộng 600 mm, đó là bề ngang một học sinh ngồi trước màn hình kể cả chỗ để khuỷu tay. Mẫu module HBT11M khổ 600 × 500 × 750 mm chính là đúng một chỗ như vậy, còn các mẫu hai chỗ thì đều dài 1200 mm, tức hai lần con số đó. Hai kiểu này khác nhau ở chỗ sau vài năm. Module ghép thành dãy dài bao nhiêu cũng được, mà khi trường đổi cách dạy hoặc cải tạo phòng thì tách ra kê lại được, còn bàn đôi đã đóng thành đôi thì cứ là đôi. Đổi lại bàn đôi ít chân hơn nên rẻ hơn tính trên đầu chỗ ngồi, và lắp cũng nhanh hơn.
Trường nào dạy tin học theo kiểu mỗi em một máy suốt buổi thì chọn kiểu nào cũng được. Trường nào hay cho học sinh làm việc nhóm, hoặc phòng còn kiêm thêm việc khác, thì module đáng tiền hơn.
Có vách hay không vách
Đây là chi tiết ảnh hưởng tới việc dạy nhiều hơn người ta tưởng, mà lại ít được hỏi trước khi chốt. Nhóm có vách gồm HBT05 và bốn mã lab, vách dựng trên mặt bàn chia đôi hai chỗ ngồi để mỗi em chỉ nhìn vào máy của mình. Nhóm không vách gồm HBT06 và HBT08, cả hai cùng khổ 1200 × 500 × 750 mm với khung sắt sơn tĩnh điện.
Chọn cái nào là chọn theo cách dạy chứ không phải theo tiền. Có vách thì học sinh tập trung hơn và làm bài kiểm tra trên máy đỡ nhìn bài nhau, nhưng giáo viên đứng cuối phòng sẽ khó bao quát màn hình cả lớp. Không vách thì ngược lại, cô nhìn một lượt là biết em nào đang mở cái gì.
Riêng hai mã không vách còn khác nhau đúng một chi tiết là cái yếm phía trước, HBT06 dùng yếm lửng còn HBT08 dùng yếm dài. Yếm dài che kín phần chân bàn và dây nhợ phía dưới nên dãy bàn quay lưng ra cửa nhìn gọn hẳn, còn yếm lửng thoáng chân hơn và lau sàn nhanh hơn.

Đuôi mã cho biết mặt bàn làm bằng gì
Dòng bàn phòng tin học đặt mã theo quy tắc gọn, đuôi M là mặt gỗ công nghiệp MFC nhập khẩu còn đuôi G là mặt gỗ tự nhiên ghép thanh, cùng kiểu dáng và cùng kích thước, chỉ khác mặt bàn. Vì thế có HBT06M đi với HBT06G, HBT08M đi với HBT08G, HBT11M đi với HBT11G. Biết chuyện này thì đọc báo giá nhanh hơn nhiều. Trường xin hai báo giá mà một bên chào bản M, một bên chào bản G, rồi thấy chênh nhau và nghĩ có bên đắt, trong khi thật ra hai bên đang chào hai thứ khác nhau. Nên việc đầu tiên khi đặt hai tờ báo giá cạnh nhau là dóng chữ cái cuối của mã, sau đó mới nhìn tới cột tiền.
Bàn cho phòng thi trên máy và phòng ngoại ngữ
Bốn mã HBT07, HBT20, HBT21A và HBT21B là nhóm riêng, đều hai chỗ ngồi khổ 1200 × 500 mm, có vách ngăn chia đôi và có kệ để chân cùng chỗ đặt thùng máy. HBT20 có kính chắn phía trước, còn HBT21A và HBT07 có hai hộc tủ tương ứng hai chỗ ngồi. Nhóm này hợp với phòng thi trên máy và phòng học ngoại ngữ, nơi cần mỗi học sinh làm bài độc lập. Kích thước của chúng ghi con số cuối là 1200 chứ không phải 750, và đó là chiều cao đo từ chân bàn lên tới thanh che phía trên, tính cả phần vách dựng trên mặt bàn, chứ không phải độ cao chỗ đặt tay. Nên khi so bốn mã này với mã khác thì so chiều dài với chiều sâu, đừng so con số cuối.

Mua cho trường thì đếm chỗ ngồi, đừng đếm bàn
Vì mỗi chỗ ngồi là 600 mm nên phòng 24 máy luôn là 24 chỗ, mua 12 bàn đôi hay 24 module đều ra đúng con số ấy. Cứ lấy chiều dài mỗi dãy kê được chia cho 600 là biết dãy đó ngồi được mấy em, khỏi phải vẽ thử. Một việc nhỏ nhưng nên làm ngay lần mua đầu là ghi mã sản phẩm vào hồ sơ của trường, ghi cả đuôi M hay G. Vài năm sau trường thêm phòng hoặc bổ sung vài bộ, người đi mua thường không phải người mua lần đầu, mà chỉ cần đọc đúng mã là làm lại được y như cũ.
Ba thứ trường hay hỏi lại sau khi đã lắp bàn
Thứ nhất là ghế. Bàn đã cố định chiều cao thì phần điều chỉnh dồn hết sang ghế, nên nếu phòng tin học của trường có cả lớp một lẫn lớp năm cùng vào thì nên tính sẵn bục kê chân cho các cháu thấp, vừa rẻ vừa làm tại chỗ được. Thứ hai là chỗ đặt thùng máy. Bốn mã lab đã có sẵn kệ để máy trong thiết kế, còn mã nào không có thì gắn thêm kệ CPU MFP08 khổ 450 × 250 × 200 mm, nhớ là cái kệ ấy chiếm chỗ dưới gầm bàn.
Thứ ba là dây nhợ. Chuyện này quyết định lúc vẽ sơ đồ kê bàn chứ không quyết định lúc chọn mẫu, và có ở bài cách bố trí bàn máy tính trong phòng tin học.
Các mã đang sản xuất cho phòng tin học
| Mã | Kích thước (mm) | Số chỗ | Hợp với |
|---|---|---|---|
| HBT05 | 1200 × 500 × 640 | 2 | Phòng tin học tiểu học, có vách |
| HBT11M, HBT11G | 600 × 500 × 750 | 1 | Module ghép dãy, phòng hay đổi cách kê |
| HBT06M, HBT06G | 1200 × 500 × 750 | 2 | Không vách, yếm lửng |
| HBT08M, HBT08G | 1200 × 500 × 750 | 2 | Không vách, yếm dài |
| HBT07, HBT20, HBT21A, HBT21B | 1200 × 500 × 1200 | 2 | Phòng thi trên máy, phòng ngoại ngữ |
Muốn xem ảnh và kiểu dáng cả nhóm văn phòng nữa thì đọc bài mẫu bàn máy tính hiện đại cho phòng tin học và văn phòng, còn số đo chi tiết từng chiều thì ở bài kích thước bàn máy tính tiêu chuẩn là bao nhiêu.
Nội thất Hồng Đức sản xuất toàn bộ dòng bàn vi tính học sinh kể trên tại Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa, và nhận làm trọn gói phòng tin học cho trường học.
Trường gửi kích thước phòng về số 0914 312 295, chúng tôi trả lại bản vẽ kê bàn kèm số chỗ ngồi tối đa, không tính phí và thường xong trong ngày.
Ghi chú về số liệu
- Kích thước, số chỗ ngồi, chất liệu và chi tiết vách ngăn của các mã HBT05, HBT06M, HBT06G, HBT07, HBT08M, HBT08G, HBT11M, HBT11G, HBT20, HBT21A, HBT21B lấy từ hồ sơ sản phẩm đang đăng của Công ty Cổ phần Thiết bị giáo dục Hồng Đức, rà ngày 14/09/2026.
- Con số 600 mm trên một chỗ ngồi ghi thẳng trong hồ sơ mã HBT11M. Kích thước 450 × 250 × 200 mm lấy từ trang sản phẩm kệ CPU MFP08.
- Bốn mã HBT07, HBT20, HBT21A, HBT21B ghi 1200 × 500 × 1200 mm. Con số cuối là chiều cao đo từ chân bàn lên tới thanh che phía trên, tức chiều cao cả bộ kể cả vách, không phải chiều cao mặt bàn. Cách đo này do bộ phận kỹ thuật của công ty xác nhận.
- Phần so sánh có vách với không vách, khác nhau giữa yếm lửng và yếm dài, và chuyện bục kê chân cho học sinh thấp là kinh nghiệm sản xuất, lắp đặt tại xưởng, không phải quy định bắt buộc.
- Mặt bàn của cả dòng bàn máy tính đều là gỗ công nghiệp MFC nhập khẩu. Bản trước của bài này ghi vài mã dùng chất liệu khác, ghi thêm xuất xứ ván và ghi HBT17 có ổ cắm nguồn trên mặt bàn, đối chiếu lại hồ sơ sản phẩm thì cả ba chi tiết đó đều không đúng nên đã bỏ.
- Bài không nêu giá vì công ty báo giá theo yêu cầu, phụ thuộc số lượng, chất liệu mặt bàn và địa điểm lắp đặt.
Bài do bộ phận kinh doanh Công ty Cổ phần Thiết bị giáo dục Hồng Đức biên soạn, dựa trên hồ sơ sản phẩm và thực tế lắp đặt phòng tin học cho trường học tại Thanh Hóa và các tỉnh lân cận.
