Muốn biết bàn ghế trong lớp có vừa với học sinh hay không, cách nhanh nhất là nhìn các em lúc đang ngồi viết. Vai nhô lên, lưng gập xuống, chân treo lơ lửng, ba dấu hiệu ấy nói nhiều hơn mọi con số.
Sau khi thấy dấu hiệu rồi mới cần tới thước dây, với ba phép đo: chiều cao bàn, chiều cao ghế, và khoảng cách giữa hai số đó. Khoảng cách này nằm trong quãng 190 đến 280 mm tuỳ vóc dáng, và nó mới là con số đáng để ý nhất.
Ba dấu hiệu nhìn thấy được ngay trong lớp
Không cần dụng cụ gì, chỉ cần đứng cuối lớp nhìn một lượt trong lúc học sinh đang viết bài. Vai nhô lên, khuỷu tay bè ra hai bên. Đây là dấu hiệu bàn cao quá so với ghế. Em phải nhấc cả cánh tay lên mới đặt được lên mặt bàn, ngồi lâu thì mỏi cổ và vai.
Lưng gập về phía trước, mặt sát trang vở. Ngược lại với trên, bàn thấp quá nên em phải cúi xuống mới nhìn rõ. Kiểu ngồi này hại cả cột sống lẫn mắt.
Chân không chạm sàn, hoặc đầu gối nhô cao hơn hông. Chân treo lơ lửng là ghế cao quá, nhìn kỹ sẽ thấy em ngoắc chân vào giằng bàn cho đỡ mỏi. Còn đầu gối nhô cao hơn hông là ghế thấp quá, đùi không tì đều lên mặt ghế.
Thấy một trong ba dấu hiệu này ở nhiều em cùng lúc thì gần như chắc chắn bộ bàn ghế của phòng đó không vừa với khối lớp đang dùng.
Ba phép đo khi cần con số cụ thể
Khi đã thấy dấu hiệu và cần số liệu để làm việc với nhà cung cấp, lấy thước dây đo ba thứ: Chiều cao bàn đo thẳng đứng từ mép sau mặt bàn xuống sàn. Chiều cao ghế đo thẳng đứng từ mép trước mặt ghế xuống sàn. Rồi lấy số thứ nhất trừ số thứ hai, ra hiệu số.

Hiệu số mới là con số đáng để ý nhất, chứ không phải chiều cao bàn đứng riêng. Nó quyết định cẳng tay đặt lên bàn ở tư thế nào, và từ đó kéo theo vai, lưng, cổ.
Bẫy hay gặp, ghép bàn cỡ này với ghế cỡ khác
Đây là lỗi phổ biến nhất mà đo riêng từng món thì không phát hiện ra. Lấy một bàn cao 570 mm ghép với ghế cao 300 mm chẳng hạn. Từng món đều là hàng đúng quy cách, nhưng ghép lại thì hiệu số thành 270 mm, trong khi bộ đồng bộ chỉ nên quanh 230 mm. Bốn phân chênh lệch ấy đủ để em ngồi phải nhướn vai suốt buổi.
Chuyện này xảy ra âm thầm qua nhiều năm: ghế hỏng thì mua bù, bàn hỏng thì thay lẻ, đến lúc nào đó cả lớp thành một mớ chắp vá mà không ai để ý. Nên khi rà soát, phải đo từng bộ chứ không đo mẫu vài cái rồi suy ra cả phòng.
Bảng cỡ số dùng làm mốc đối chiếu
Bảng này là mốc để đối chiếu số đo. Đơn vị milimet.

| Cỡ số | Chiều cao học sinh | Chiều cao bàn | Chiều cao ghế | Hiệu số |
|---|---|---|---|---|
| I | 100 – 109 cm | 450 | 260 | 190 |
| II | 110 – 119 cm | 480 | 280 | 200 |
| III | 120 – 129 cm | 510 | 300 | 210 |
| IV | 130 – 144 cm | 570 | 340 | 230 |
| V | 145 – 159 cm | 630 | 370 | 260 |
| VI | 160 – 175 cm | 690 | 410 | 280 |
Một điều cần nói rõ để khỏi hiểu nhầm. Bảng này lập năm 2011 và dừng ở học sinh cao 175 cm. Đo ra bàn cao hơn mức trong bảng thì chưa chắc đã là lỗi, vì trẻ bây giờ cao hơn thế hệ trước, và nhiều nhà sản xuất đã nâng chiều cao lên cho hợp thực tế. Bàn 640 mm cho tiểu học hay 750 mm cho cấp 3 là những mức như vậy.
Cái phải xem là bàn ghế có vừa với các em đang ngồi hay không. Bảng chỉ giúp mình có điểm neo để so, còn kết luận thì nhìn vào học sinh. Riêng trường mua sắm bằng ngân sách mà hồ sơ yêu cầu khớp đúng cỡ số thì lại là chuyện khác, lúc đó bảng thành ràng buộc.
Số đo chiều cao học sinh lấy ở đâu
Chỗ này nhiều trường không để ý nên tưởng phải tổ chức đo lại từ đầu. Thực ra dữ liệu đã có sẵn. Thông tư liên tịch 13/2016 về công tác y tế trường học quy định các trường phải khám sức khoẻ đầu năm cho học sinh, trong đó có đo chiều cao. Hồ sơ sức khoẻ đầu năm chính là bảng số liệu cần dùng, chỉ việc lấy ra rồi đối chiếu, khỏi mất thêm một buổi đo.

Bàn ghế không vừa rồi thì làm gì
Không phải cứ lệch là thay mới cả phòng. Ba cách làm theo thứ tự tốn kém tăng dần. Luân chuyển giữa các khối. Trường nào cũng có phòng thừa bộ lớn, phòng thiếu bộ nhỏ. Đảo bộ cỡ lớn lên khối trên, chuyển bộ nhỏ xuống khối dưới, nhiều khi giải quyết được phần lớn vấn đề mà không tốn đồng nào.
Đổi ghế trước, đừng vội đổi bàn. Khi hiệu số lệch, thủ phạm thường là ghế. Mà ghế thì rẻ hơn bàn nhiều, thay ghế cho đúng bộ là chi phí thấp nhất để chữa đúng chỗ.
Ưu tiên chuẩn hoá phòng bán trú trước. Bàn ghế bán trú trưa còn phải gập ra ghép thành chỗ nằm, nên cả phòng bắt buộc dùng một cỡ thống nhất, không thì mặt nằm gồ ghề. Phòng học thường thì linh hoạt hơn nhiều.
Mua mới thì đòi nhà cung cấp những gì
Ba thứ nên có trong hồ sơ, yêu cầu bằng văn bản chứ không nghe nói miệng. Chiều cao bàn và chiều cao ghế bằng milimet. Phải đủ cả hai số, thiếu một là không tính được hiệu số.
Vật liệu ghi cụ thể, là gỗ tự nhiên ghép thanh, Plywood hay MFC, kèm độ dày. Không nhận cách ghi chung chung kiểu “gỗ công nghiệp cao cấp”. Kết quả thử nghiệm phát thải formaldehyt của tấm ván, cùng giấy chứng nhận hợp quy còn hiệu lực tại thời điểm giao hàng. Học sinh ngồi cạnh mặt bàn cả ngày nên đây không phải thủ tục hình thức.
Về góc cạnh thì yêu cầu bo tròn ở mọi cạnh học sinh có thể va vào, nhất là bốn góc mặt bàn và mép ghế. Bảng sáu cỡ số đầy đủ và cách đếm số lượng từng cỡ nằm ở bài chọn bàn ghế học sinh theo chiều cao. Còn những dấu hiệu nhìn thấy được khi bàn ghế không vừa, từ vai nhướn tới chân co lại, tôi viết riêng ở bài tư thế ngồi học đúng bắt đầu từ bộ bàn ghế vừa vóc dáng.
Đo xong mà thấy phòng thiếu cỡ nào thì bổ sung theo đúng cỡ đó. Dòng bàn ghế làm đúng Thông tư 26 có sẵn bốn cỡ từ III đến VI, dùng để bù vào những cỡ đang thiếu mà không phải thay cả phòng.
Hồng Đức làm bàn ghế học sinh tại Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa, đủ sáu cỡ số theo Thông tư 26.
Trường kiểm tại lớp thấy nhiều em ngồi chưa vừa thì gọi 0914 312 295. Chúng tôi giúp quy số đo thực tế ra cỡ số và tính lại số lượng từng cỡ.
Căn cứ
- Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT ngày 16/06/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế hướng dẫn tiêu chuẩn bàn ghế học sinh trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông.
- Thông tư liên tịch số 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT ngày 12/05/2016 của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về công tác y tế trường học, Điều 9 về khám sức khoẻ đầu năm.
