Học sinh không thể ngồi đúng tư thế trên bộ bàn ghế sai cỡ số. Thông tư liên tịch 26/2011 quy định hiệu số giữa chiều cao bàn và chiều cao ghế theo từng cỡ, từ 19 cm ở cỡ I tới 28 cm ở cỡ VI. Hiệu số sai thì tư thế sai, dù học sinh có cố ngồi thẳng đến đâu.
Vì sao nhắc tư thế thôi thì chưa đủ
Nhiều phụ huynh và giáo viên thường xuyên nhắc nhở học sinh phải ngồi ngay ngắn, giữ lưng thẳng và không cúi sát mặt vở. Tuy nhiên, việc nhắc nhở sẽ không mang lại hiệu quả nếu kích thước bộ bàn ghế không tương thích với thể trạng của người ngồi.
Khi bàn quá cao so với ghế, học sinh buộc phải nhấc bổng hai vai hoặc tì cả cẳng tay lên bàn để viết. Khi bàn quá thấp, học sinh bắt buộc phải gập người về phía trước mới có thể nhìn rõ trang sách. Trong những trường hợp đó, việc ngồi sai tư thế là phản ứng tự nhiên của cơ thể để thích ứng với không gian học tập, không thể giải quyết bằng cách nhắc nhở bằng lời.
Hiệu số bàn ghế là gì
Hiệu số chiều cao bàn ghế là khoảng cách chênh lệch giữa chiều cao mặt bàn và chiều cao mặt ghế. Trong thiết kế nội thất trường học, đây là thông số quan trọng nhất quyết định tư thế đặt tay và vị trí của cột sống khi học sinh ngồi viết.
Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Bộ Y tế ban hành quy định rõ chiều cao bàn, chiều cao ghế và hiệu số chuẩn cho từng cỡ số:
| Cỡ số | Chiều cao học sinh | Chiều cao bàn | Chiều cao ghế | Hiệu số chuẩn |
|---|---|---|---|---|
| I | 100 đến 109 | 45 | 26 | 19 |
| II | 110 đến 119 | 48 | 28 | 20 |
| III | 120 đến 129 | 51 | 30 | 21 |
| IV | 130 đến 144 | 57 | 34 | 23 |
| V | 145 đến 159 | 63 | 37 | 26 |
| VI | 160 đến 175 | 69 | 41 | 28 |

Chiều cao bàn được tính từ mép sau mặt bàn thẳng đứng xuống sàn. Chiều cao ghế được tính từ mép trước mặt ghế thẳng đứng xuống sàn. Ở mỗi cỡ số, hiệu số tăng dần từ 19 cm ở cấp mầm non đến 28 cm ở cấp trung học phổ thông để tương ứng với tỷ lệ phát triển thân trên của học sinh.
Ghép bàn cỡ này với ghế cỡ khác
Một lỗi rất phổ biến tại các lớp học là ghép lẫn bàn của cỡ số này với ghế của cỡ số khác. Từng chiếc bàn và từng chiếc ghế khi kiểm tra riêng lẻ đều đúng thông số kỹ thuật, nhưng khi ghép chung lại tạo thành một bộ bàn ghế sai hoàn toàn về hiệu số.
Ví dụ: nếu ghép bàn cỡ V (chiều cao 63 cm) với ghế cỡ IV (chiều cao 34 cm), hiệu số thực tế sẽ là 29 cm. Trong khi đó, hiệu số chuẩn của cỡ V là 26 cm và cỡ IV là 23 cm. Khoảng cách chênh lệch 29 cm quá lớn khiến khoảng cách từ mặt ghế lên mặt bàn bị nâng cao bất thường, làm cho cẳng tay học sinh không thể đặt ngang tự nhiên trên mặt phẳng làm việc.
Ba dấu hiệu quan sát được khi học sinh ngồi không vừa
Không cần đến dụng cụ đo đạc chuyên dụng, giáo viên và phụ huynh có thể nhận biết ngay tình trạng bàn ghế lệch cỡ số qua các biểu hiện trực quan khi học sinh làm bài:
- Hai vai nhô cao: xảy ra khi bàn quá cao hoặc ghế quá thấp so với chiều cao thân trên. Học sinh phải nhún vai, giương cao cùi chỏ hoặc dang rộng hai cánh tay để với tới mặt bàn.
- Cúi gập thân người sát mặt vở: xảy ra khi bàn quá thấp hoặc ghế quá cao. Học sinh phải gập cong lưng để đưa tầm mắt lại gần sách vở do mặt bàn nằm thấp hơn tầm nhìn tự nhiên.
- Bàn chân không chạm phẳng mặt sàn: xảy ra khi chiều cao ghế vượt quá chiều dài cẳng chân. Học sinh ngồi với hai chân lơ lửng, hoặc phải móc chân vào thanh giằng bàn ghế phía dưới để tìm điểm tì.
Nguyên tắc ngồi mà ai cũng nói
Trong thực hành lớp học và không gian gia đình, các nguyên tắc ngồi học thoải mái thường được nhắc đến bao gồm:
- Lưng giữ thẳng ở trạng thái tự nhiên, tựa nhẹ vào phần tựa lưng của ghế nếu có.
- Hai bàn chân đặt trọn vẹn và bằng phẳng trên mặt sàn, đùi đặt song song với mặt đất.
- Cẳng tay đặt thoải mái trên mặt bàn, khuỷu tay gập góc mở tự nhiên, không phải gồng vai.
- Mắt giữ khoảng cách vừa phải với trang sách, không cúi gục đầu hay tì ngực vào mép bàn.
Cần làm rõ rằng: những hướng dẫn tư thế như lưng thẳng hay gập góc tự nhiên là các nguyên tắc công thái học phổ thông nhằm tạo sự thoải mái cho cơ thể, không phải là điều khoản quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam.
Trường đã có số đo chiều cao học sinh
Để sắp xếp bàn ghế đúng cỡ cho từng em, nhà trường hoàn toàn không cần phải triển khai một cuộc khảo sát kích thước phát sinh.
Căn cứ Điều 9 khoản 1 Thông tư liên tịch 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT quy định về công tác y tế trường học, nhà trường có trách nhiệm tổ chức kiểm tra sức khoẻ vào đầu năm học cho học sinh từ 36 tháng tuổi trở lên, trong đó nội dung đo chiều cao là bắt buộc. Bên cạnh đó, khoản 3 của điều này quy định nhà trường thực hiện khám phát hiện cong vẹo cột sống và giảm thị lực cho học sinh.
Dữ liệu chiều cao có sẵn trong sổ theo dõi y tế học đường đầu năm chính là nguồn thông tin chính xác nhất để đối chiếu trực tiếp vào bảng phân loại sáu cỡ số của Thông tư liên tịch 26/2011.
Xếp lại chỗ ngồi thế nào
Khi đã có số liệu chiều cao của học sinh trong lớp, việc điều chỉnh không gian học tập có thể thực hiện theo các bước thực tế:
- Bố trí chỗ ngồi theo chiều cao thực tế: sắp xếp học sinh có chiều cao tương đồng ngồi vào các cụm bàn ghế có cỡ số phù hợp trong lớp. Học sinh có thể trạng nhỏ hơn ngồi ở khu vực bàn cỡ nhỏ, học sinh cao lớn hơn ngồi ở các dãy bàn cỡ lớn.
- Ưu tiên thay thế hoặc đổi ghế trước: nếu phát hiện hiệu số bàn ghế bị lệch do ghép nhầm, việc luân chuyển hoặc bổ sung ghế đúng kích cỡ sẽ đơn giản và tiết kiệm kinh phí hơn nhiều so với việc thay mới toàn bộ bàn học.
- Kiểm tra sự đồng bộ trong lớp: rà soát lại từng vị trí ngồi sau khi sắp xếp để bảo đảm không còn tình trạng ghép lẫn bàn của cỡ số này với ghế của cỡ số khác.
Nội thất Hồng Đức (Công ty Cổ phần Thiết bị giáo dục Hồng Đức) sản xuất các dòng bàn ghế học sinh đạt chuẩn kích thước và hiệu số theo Thông tư liên tịch 26/2011, phù hợp cho từng cấp học từ mầm non đến phổ thông.
Nhà máy: Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa. Hotline: 0914 312 295.
Nguồn tham chiếu
- Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT Hướng dẫn tiêu chuẩn bàn ghế học sinh trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông
- Thông tư liên tịch 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT Quy định về công tác y tế trường học, Điều 9
