Phòng hội đồng giáo viên dùng cố định cho họp hội đồng thì một bàn liền khối gọn và trang trọng hơn. Phòng phải dùng nhiều việc, khi họp khi tập huấn, thì nhiều bàn ghép lại linh hoạt hơn. Điều cần chốt trước không phải kiểu bàn mà là kích thước phòng và cách kê ghế quanh bàn.

Bàn liền khối và bàn ghép mô đun khác nhau ở đâu?
Bàn liền khối là một mặt bàn lớn đặt cố định giữa phòng. Ưu điểm là mặt bàn phẳng liền, không có khe nối ở giữa, nhìn chỉnh chu khi tiếp khách hoặc họp hội đồng đông người. Nhược điểm là khó xoay chuyển, phòng đã kê rồi thì gần như cố định luôn cách bố trí.
Bàn ghép là nhiều bàn nhỏ kê sát nhau thành một mặt bàn lớn. Khi cần chia nhóm tập huấn hoặc lấy chỗ trống cho hoạt động khác, giáo viên tự tách ra được. Đổi lại, mặt bàn có khe nối, và các bàn phải cùng cỡ cùng chiều cao thì ghép mới phẳng.
Trong danh mục nội thất văn phòng của Nội thất Hồng Đức, cả hai hướng đều có mã tương ứng. Nhóm bàn cỡ cố định như 2400 × 1200 × 750 mm hợp để ghép; nhóm khổ lớn như 4800 × 1800 × 750 mm là bàn liền khối đặt cố định.
Vì sao chiều cao bàn họp luôn là 750 mm?
Đây là con số chắc chắn nhất khi chọn bàn họp: mọi bàn họp trong danh mục đều cao 750 mm, không có mã nào khác chiều cao. Danh mục không giải thích lý do, nhưng với người lập dự toán thì điều này có ích ngay.
Thứ nhất, ghép bàn khác mã vẫn phẳng mặt, miễn là cùng dòng chiều cao này. Nhà trường mua bổ sung sau vài năm vẫn ghép được với bàn cũ, chỉ cần đối chiếu đúng chiều cao và bề rộng.
Thứ hai, chọn ghế dễ hơn. Ghế phòng họp trong danh mục có bề ngang chạy từ 395 mm đến 670 mm, và chiều cao mặt ngồi của từng mã ghi rõ trong bảng thông số. Cứ lấy chiều cao bàn cố định 750 mm làm mốc rồi đối chiếu là được.

Hai cách tính giá bàn họp, đây là chỗ hay lệch dự toán
Bàn họp trong danh mục không bán theo một cách duy nhất. Có mã bán theo chiếc, có mã bán theo mét vuông mặt bàn. Đọc nhầm là lệch hẳn con số trong bảng dự trù kinh phí.
Mã bán theo chiếc là mã có cỡ cố định, ví dụ ghi 2800 × 1400 × 750 mm hoặc 2400 × 1200 × 750 mm. Mã bán theo mét vuông là mã ghi kích thước dạng L × 1800 × 750 mm, trong đó chữ L nghĩa là chiều dài do nhà trường đặt theo phòng.
Còn một chi tiết nhỏ mà hậu quả không nhỏ: một số mã ghi rõ tính theo mét vuông bề mặt không trừ rỗng. Nghĩa là phần khoét rỗng ở giữa mặt bàn vẫn được tính tiền. Khi xin báo giá, nhà trường nên hỏi thẳng mã đó tính theo cách nào.
Về mức chênh giữa các dòng vật liệu, cùng một khổ bàn L × 1800 × 750 mm, dòng gỗ tự nhiên đắt hơn dòng gỗ công nghiệp MFC khoảng ba lần rưỡi tính theo mét vuông mặt bàn. Danh mục không giải thích lý do của mức chênh này. Mức giá hiện hành tuỳ thời điểm và số lượng đặt, quý trường liên hệ hotline để nhận báo giá.
Chọn theo số giáo viên hay theo kích thước phòng?
Theo kích thước phòng trước, rồi mới tính tới số chỗ. Lý do đơn giản: bàn đặt vừa phòng thì kê được, còn bàn đúng số chỗ nhưng quá khổ thì không kê nổi.
Cách làm thực tế là đo chiều dài và chiều rộng phần sàn trống, ghi lại vị trí cột và cửa ra vào, rồi trừ đi khoảng để ghế lùi ra và lối đi quanh bàn. Phần còn lại mới là khổ bàn tối đa kê được.
Khổ bàn họp trong danh mục chạy từ 2400 × 1200 mm tới 4800 × 1800 mm, bề rộng có các cỡ 1200, 1400, 1500, 1600, 1800 và 2000 mm. Với phòng hội đồng đông giáo viên mà phòng lại hẹp, phương án ghép nhiều bàn nhỏ thường vừa hơn một bàn khổ lớn.
Danh mục chỉ công bố kích thước mặt bàn, không quy định số người ngồi được quanh mỗi cỡ. Số chỗ phụ thuộc vào bề ngang ghế và khoảng cách giữa hai ghế mà nhà trường chọn.
Ghế cho phòng hội đồng chọn loại nào?
Ghế phòng họp trong danh mục chia làm ba nhóm chính: ghế chân quỳ, ghế gấp và ghế tựa thường. Với phòng hội đồng dùng thường xuyên, ghế chân quỳ là nhóm được dùng nhiều hơn cả vì khung thép uốn liền, không bánh xe, nên hàng ghế giữ được thẳng.
Điểm cần cân nhắc là tay vịn. Cùng dòng chân sơn tĩnh điện, bản có tay vịn đắt hơn bản không tay gần 67% và rộng thêm 200 mm mỗi chiếc. Với phòng hội đồng nhiều chỗ, cả tiền lẫn chỗ đều đáng tính.
Phòng hội đồng kiêm phòng tập huấn, mỗi tháng dùng vài buổi, có thể cân nhắc thêm dòng ghế gấp để cất gọn khi không dùng. Danh mục không có mã ghế gấp nào có tay vịn, đây là điều cần biết trước khi chốt.
Một chi tiết hay bị bỏ sót: ổ điện âm bàn không phải mặc định. Chỉ một số mã bàn họp được danh mục ghi rõ là có ổ điện. Phòng hội đồng cần cắm máy chiếu hoặc laptop thì phải ghi yêu cầu này vào hồ sơ, đừng mặc định là bàn nào cũng có.

Bốn dòng vật liệu mặt bàn, chọn theo mức trang trọng của phòng
Danh mục chia bàn họp thành bốn dòng theo vật liệu mặt bàn, và đây là thứ quyết định chênh lệch chi phí nhiều nhất, hơn cả khổ bàn.
Dòng gỗ công nghiệp phủ MFC là mức nền, cũng là dòng có nhiều mã nhất và nhiều khổ nhất. Dòng gỗ công nghiệp sơn phủ công nghệ Đài Loan đứng trên một bậc, bề mặt bóng mịn hơn. Dòng gỗ tự nhiên đắt hơn hẳn, tính theo mét vuông mặt bàn thì gấp khoảng ba lần rưỡi so với dòng MFC ở cùng khổ. Dòng cao cấp nhất có thêm tấm trang trí bọc da trên mặt bàn và ổ điện đa chức năng.
Với phòng hội đồng của trường phổ thông dùng hằng tuần, hai dòng gỗ công nghiệp thường là lựa chọn cân đối giữa chi phí và độ bền bề mặt. Dòng gỗ tự nhiên và dòng cao cấp thường được chọn cho phòng tiếp khách hoặc phòng họp ban giám hiệu, nơi yêu cầu trang trọng cao hơn.
Điều cần nhớ khi so báo giá: hai mã cùng khổ nhưng khác dòng vật liệu sẽ cho ra hai con số rất xa nhau, nên khi đối chiếu các bản chào giá, nhà trường phải xem chúng có cùng dòng vật liệu không rồi mới so được.
Ba chỗ hay bị bỏ sót khi lập hồ sơ
Thứ nhất là đơn vị tính. Bàn tính theo chiếc và bàn tính theo mét vuông mặt bàn cho ra hai cách lập dự trù khác hẳn nhau. Không ghi rõ trong hồ sơ là dễ tranh cãi lúc nghiệm thu.
Thứ hai là ổ điện âm bàn. Không phải mã nào cũng có. Phòng hội đồng thường phải cắm máy chiếu, loa hoặc laptop, nên cần ghi thành yêu cầu riêng ngay từ đầu.
Thứ ba là khoảng lùi ghế. Nhiều trường đo vừa khít khổ bàn với phòng rồi mới phát hiện ghế không lùi ra được để người ngồi đứng lên. Khi đo phòng, nên trừ sẵn phần này ở cả bốn phía bàn.
Ghi gì vào hồ sơ mua sắm
Ghi rõ mã sản phẩm kèm đủ ba chiều, ghi rõ dòng vật liệu mặt bàn, và ghi rõ đơn vị tính là theo chiếc hay theo mét vuông. Với mã tính theo mét vuông, ghi thêm là tính trừ rỗng hay không trừ rỗng.
Nếu cần ổ điện âm bàn thì ghi thành một dòng riêng trong yêu cầu kỹ thuật. Nếu định mua bổ sung bàn ghép trong các năm sau, ghi lại mã và ba chiều của bàn đợt đầu để đối chiếu.
Nội thất Hồng Đức bảo hành 12 tháng kèm bảo trì bảo dưỡng trọn đời, giao và lắp đặt tận nơi kể cả các huyện xa, và nhận bán lẻ số lượng ít. Công ty nhận cử cán bộ kỹ thuật đến khảo sát, đo đạc mặt bằng không tính phí, tùy theo quy mô đơn hàng. Riêng phần dựng thiết kế 3D: được miễn phí nếu nhà trường ký thi công trọn gói, còn làm riêng phần 3D thì có thu phí. Quý trường cần tư vấn chọn khổ bàn theo kích thước phòng hội đồng, vui lòng liên hệ hotline: 0914312295.
Câu hỏi thường gặp về bàn phòng hội đồng giáo viên
Bàn họp cỡ nào thì ngồi được 30 người?
Danh mục sản phẩm chỉ công bố kích thước mặt bàn, không quy định số chỗ ngồi tương ứng từng cỡ. Số người ngồi được phụ thuộc vào bề ngang ghế nhà trường chọn và khoảng cách giữa hai ghế, nên cần thống nhất với nhà cung cấp dựa trên kích thước phòng thật. danh mục chưa ghi số chỗ ngồi cho từng cỡ bàn
Bàn ghép sau này nối thêm được không?
Mọi bàn họp trong danh mục đều cao 750 mm nên về chiều cao là đồng bộ. Tuy nhiên việc nối thêm mô đun vào một dãy bàn đã lắp hoàn thiện cần được xác nhận theo từng mã cụ thể. Việc nối thêm mô đun vào bàn đã lắp, nhà trường hỏi trực tiếp.
Bàn họp cao bao nhiêu?
Toàn bộ bàn họp trong danh mục của Nội thất Hồng Đức đều có chiều cao 750 mm, không có mã nào khác. Bề rộng mặt bàn thì có nhiều cỡ, gồm 1200, 1400, 1500, 1600, 1800 và 2000 mm.
Có làm bàn họp theo kích thước riêng không?
Các mã ghi kích thước dạng L × rộng × 750 mm cho phép nhà trường đặt chiều dài theo phòng, vì chữ L nghĩa là chiều dài do khách đặt. Với những kích thước nằm ngoài các khổ trong danh mục, nhà trường nên trao đổi trực tiếp với công ty theo từng đơn hàng. Việc làm bàn họp khổ riêng, nhà trường hỏi trực tiếp.
