Năm lỗi hay gặp khi mua bàn học lớp 1, lỗi nào cũng có con số

Lỗi tốn tiền nhất khi mua bàn học lớp 1 là mua bàn to cho “dùng được nhiều năm”. Con cao 115 cm cần bàn 48 cm; mua bàn 63 cm để dùng tới cấp 2 là bắt con nhướn vai suốt bốn năm.

Năm lỗi dưới đây đều quy được về một con số, nên kiểm được bằng thước chứ không phải bằng cảm giác.

Những sai lầm cần tránh khi mua bàn học lớp 1

Lỗi thứ nhất, mua bàn to cho con dùng lâu

Đây là lỗi phổ biến nhất và nghe có vẻ tiết kiệm nhất. Theo Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT, con cao 110 đến 119 cm thuộc cỡ II, bàn 48 cm, ghế 28 cm. Cỡ V dành cho học sinh cao 145 đến 159 cm, bàn 63 cm.

Chênh 15 cm. Con lớp 1 ngồi bàn ấy phải nâng vai mới đặt được tay lên mặt bàn, và tư thế đó giữ nguyên hằng ngày cho tới khi con đủ cao. Cách làm đúng ngược lại: mua vừa cỡ hiện tại, đổi khi con chạm mốc cỡ mới. Bàn cũ bán lại hoặc để cho em, vẫn rẻ hơn bốn năm ngồi sai.

Lỗi thứ hai, chỉ hỏi mỗi chiều cao bàn

Báo giá nào cũng ghi chiều cao bàn, ít nơi ghi chiều cao ghế. Nhiều phụ huynh vì thế chỉ so mỗi con số ấy. Nhưng thứ quyết định tư thế ngồi là hiệu số, tức khoảng cách giữa mặt bàn và mặt ghế. Thông tư ghi rõ từng cỡ:

Cỡ Bàn Ghế Hiệu số
I 45 cm 26 cm 19 cm
II 48 cm 28 cm 20 cm
III 51 cm 30 cm 21 cm

Ghép bàn cỡ III với ghế cỡ I thì hiệu số thành 25 cm thay vì 21. Con phải rướn người, và không ai nhìn bảng giá mà thấy được điều đó. Nên hỏi đủ hai số, và nếu mua rời thì tự cộng trừ lấy hiệu số rồi đối chiếu bảng.

Lỗi thứ ba, tin chữ “tăng chỉnh” mà không hỏi ba nấc là bao nhiêu

Bàn tăng chỉnh chiều cao nghe như lời giải cho chuyện con lớn nhanh. Nhưng phải hỏi thêm một câu: nấc thấp nhất là bao nhiêu centimet. Lấy ngay hàng của chúng tôi làm ví dụ, vì đây là chỗ chúng tôi không giấu được:

  • SSBTH16: ba nấc 59, 63, 67 cm
  • SSBTH17: ba nấc 57, 60, 63 cm

Nấc thấp nhất của cả hai là 57 cm, tức cỡ IV, dành cho học sinh cao 130 đến 144 cm. Con lớp 1 cao 115 cm cần bàn 48 cm, thấp hơn nấc thấp nhất tới 9 cm. Nói cách khác, dòng tăng chỉnh của chúng tôi hợp với học sinh lớp 4, lớp 5 trở lên, không hợp lớp 1. Chỗ này Hồng Đức làm còn hạn chế, chúng tôi nói thẳng chứ không để phụ huynh mua rồi mới biết.

Nếu nhà muốn một bộ theo con nhiều năm thì nên hỏi kỹ dải chỉnh của mọi nơi bán, đừng dừng ở chữ “tăng chỉnh”.

Bàn học kém chất lượng, mặt bàn bong tróc

Lỗi thứ tư, cho con ngồi tạm bàn ăn hoặc bàn của anh chị

Bàn ăn gia đình thường cao 72 đến 75 cm. So với bàn cỡ II là 48 cm, chênh gần 30 cm. Chuyện này hay xảy ra vào tháng đầu năm học, khi bàn mới chưa kịp mua. Ngồi tạm vài buổi thì không sao, nhưng “tạm” hay kéo thành cả học kỳ.

Nếu buộc phải tạm, ít nhất hãy chữa hai chỗ: kê thêm đệm ngồi cho con cao lên, và kê bục để chân cho bàn chân chạm mặt phẳng. Hai thứ ấy giữ được hiệu số gần đúng.

Lỗi thứ năm, chọn hình con vật trước rồi mới chọn cỡ

Bàn học trẻ em bán ra kèm hình cá heo, con thỏ, mặt cười, và trẻ chọn ngay cái mình thích. Rất dễ hiểu. Nhưng thứ tự đúng là: lọc theo cỡ trước, rồi cho con chọn trong số còn lại. Con vẫn được chọn, mà bộ nào cũng vừa.

Một điểm nhỏ về màu, và nói cho đúng chứ không nói quá: mặt bàn màu quá chói hoặc phủ bóng quá sẽ phản sáng đèn học vào mắt con. Đây là chuyện dễ thấy khi bật đèn bàn chứ không phải chuyện bệnh lý. Chọn mặt bàn màu dịu và không bóng gương thì dễ chịu hơn.

Bàn ghế học sinh màu sắc quá nổi bật, mặt bàn bóng

Còn ghế không tựa thì sao

Ghế không tựa rẻ hơn và gọn hơn, nên nhiều nhà chọn. Với lớp 1 thì nên tránh, và lý do nằm trong chính văn bản. Thông tư 26 quy định cả chiều sâu ghế cho từng cỡ: cỡ I là 26 cm, cỡ II 27 cm, cỡ III 29 cm. Chiều sâu ghế được định nghĩa là khoảng cách từ mặt phẳng tựa lưng đến cạnh trước mặt ghế.

Nghĩa là cách đo ấy giả định ghế có tựa. Trẻ lớp 1 ngồi liền 30 đến 40 phút, không có tựa thì lưng tự cong về trước.

Ghế học sinh không có tựa lưng

Ba phép kiểm sau khi bàn về nhà

  • Cả bàn chân chạm sàn, không phải mỗi mũi chân
  • Khuỷu tay ngang mặt bàn khi con ngồi thẳng, vai buông tự nhiên
  • Lưng tựa được mà chân vẫn chạm sàn

Thiếu một trong ba thì chưa vừa, kể cả khi hóa đơn ghi đúng cỡ. Cách tra cỡ theo chiều cao con có ở bài đo con rồi tra bảng, đừng mua theo lớp.

Nội thất Hồng Đức sản xuất tại Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa. Dòng đúng cỡ số Thông tư 26 của xưởng bắt đầu từ cỡ III, và dòng tăng chỉnh bắt đầu từ cỡ IV.

Phụ huynh gọi 0914 312 295 đọc chiều cao con là chúng tôi tra giúp. Con chưa tới cỡ chúng tôi có thì chúng tôi nói vậy, đừng ngại.

Căn cứ và nguồn số liệu

  • Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT ngày 16/06/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế. Chiều cao bàn, chiều cao ghế, hiệu số, chiều sâu ghế và định nghĩa chiều sâu ghế đều lấy từ văn bản này.
  • Ba nấc chiều cao của SSBTH16 (590, 630, 670 mm) và SSBTH17 (570, 600, 630 mm) lấy từ hồ sơ sản phẩm của Công ty Cổ phần Thiết bị giáo dục Hồng Đức, đọc ngày 12/09/2026.
  • Chiều cao bàn ăn 72 đến 75 cm là khoảng thông dụng trên thị trường nội thất gia đình, nêu để so sánh, không phải số liệu quy chuẩn.
  • Bài không nêu con số nào về tỷ lệ cong vẹo cột sống hay cận thị, vì chúng tôi không có nguồn y khoa để dẫn.

Bài do bộ phận kinh doanh Công ty Cổ phần Thiết bị giáo dục Hồng Đức biên soạn, dựa trên hồ sơ sản phẩm và thực tế tư vấn bàn ghế cho gia đình tại Thanh Hóa và các tỉnh lân cận.