Học sinh cấp 2 không dùng chung một cỡ bàn. Bốn năm từ lớp 6 đến lớp 9 trải qua ba cỡ số: bàn 570 mm, 630 mm và 690 mm.
Muốn biết con mình cỡ nào thì đo chiều cao rồi tra bảng bên dưới. Đừng chọn theo lớp, vì hai em cùng lớp 7 có thể lệch nhau hai cỡ.
Học sinh cấp 2 dùng bàn ghế cỡ số nào?
Bảng cỡ số bàn ghế học sinh nằm trong Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT, do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Y tế cùng ban hành. Bảng chia sáu cỡ theo chiều cao học sinh. Lứa tuổi cấp 2 thường nằm ở ba cỡ cuối.
| Cỡ số | Học sinh cao | Chiều cao bàn | Chiều cao ghế | Hiệu số bàn trừ ghế |
|---|---|---|---|---|
| IV | 130 đến 144 cm | 570 mm | 340 mm | 230 mm |
| V | 145 đến 159 cm | 630 mm | 370 mm | 260 mm |
| VI | 160 đến 175 cm | 690 mm | 410 mm | 280 mm |
Cột cuối là con số ít người để ý nhưng quyết định tư thế ngồi. Mặt bàn cao bao nhiêu chỉ có nghĩa khi đặt cạnh mặt ghế. Hiệu số vừa thì cẳng tay đặt lên bàn tự nhiên, vai buông, lưng thẳng. Hiệu số lớn quá thì em phải nhướn vai lên mới với tới mặt bàn, nhỏ quá thì cúi gập người xuống.
Đó là lý do mua bàn một nơi rồi ghép ghế nơi khác cho rẻ thường hỏng. Hai món riêng lẻ đều đúng chuẩn, ghép vào nhau lại sai đúng cái tỷ lệ quan trọng nhất. Còn một văn bản nữa hay bị nhắc lẫn với thông tư, nên nói cho rõ ở đây. TCVN 7490:2005 do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành, tên đầy đủ là “Ecgônômi. Bàn ghế học sinh tiểu học và trung học cơ sở”, tức là phủ đúng từ lớp 1 đến lớp 9. Nhưng đây là tiêu chuẩn tự nguyện, không bắt buộc. Người viết hồ sơ mời thầu cần phân biệt hai loại này, vì ghi nhầm một tiêu chuẩn tự nguyện thành yêu cầu bắt buộc là nhà thầu có cớ khiếu nại.
Đo chiều cao bàn ghế thế nào cho đúng?
Chiều cao bàn đo từ sàn lên mép sau mặt bàn. Chiều cao ghế đo từ sàn lên mép trước mặt ghế. Thông tư cho sai số 0,5 cm mỗi chiều.

Nghe thì nhỏ nhặt, nhưng đo sai chỗ là lệch cả centimet. Mặt bàn nhiều mẫu có độ nghiêng nhẹ về phía người ngồi, đo ở mép trước sẽ ra con số thấp hơn thực tế.
Vì sao không chọn bàn theo khối lớp?
Cách nhanh nhất là hỏi “lớp 7 thì dùng cỡ mấy”. Câu hỏi ấy không có đáp án, vì thông tư chia theo chiều cao chứ không chia theo khối lớp. Bước vào một lớp 6 bất kỳ sẽ thấy ngay. Có em còn nhỏ như học sinh tiểu học, cao chừng mét ba. Ngồi cạnh là em đã cao mét rưỡi, chân duỗi ra chạm gầm bàn của bạn. Hai em cách nhau đúng hai cỡ số, mà vẫn học chung một phòng.
Với nhà trường, việc cần làm là đo chiều cao cả lớp rồi đếm xem mỗi cỡ cần bao nhiêu bộ. Số đo ấy thường đã có sẵn: Thông tư liên tịch 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT về công tác y tế trường học yêu cầu khám sức khoẻ đầu năm cho học sinh, trong đó có đo chiều cao. Lấy hồ sơ ra đối chiếu là xong, khỏi mất thêm một buổi.
Cách tự kiểm tra từng bộ bàn ghế trong lớp, tôi viết riêng ở bài bàn ghế học sinh có vừa với các em không.
Vì sao bàn cấp 2 của Hồng Đức cao 700 mm?
Bàn ghế cấp 2 của Nội thất Hồng Đức cao 700 mm, cao hơn cỡ VI đúng 10 mm. Chênh lệch nhỏ ấy là chủ ý. Bảng cỡ số ban hành năm 2011 và dừng lại ở học sinh cao 175 cm. Ở lớp 9 hiện nay, có em đã chạm tới mức đó. Đây không phải cảm nhận riêng của người bán hàng: trong Công văn 4517/BGDĐT-KHTC ngày 22/08/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu con số theo báo cáo của 35 trên 63 tỉnh thành, năm 2024 cả nước có gần 125.000 học sinh cao trên 175 cm.
Cùng công văn ấy, Bộ hướng dẫn Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh phối hợp với cơ quan khoa học công nghệ và y tế để xác định kích thước phù hợp cho nhóm học sinh vượt mức. Ba tiêu chuẩn Bộ chỉ sang đáng chú ý ở chỗ chúng không phải tiêu chuẩn dành cho phổ thông: TCVN 3981:1985 là tiêu chuẩn thiết kế trường đại học, TCVN 4602:2012 dành cho trường trung cấp chuyên nghiệp, còn TCVN 7437:2018 là tiêu chuẩn ecgônômi về nguyên lý thiết kế hệ thống làm việc. Đọc kỹ thì thấy Bộ đang nói điều này: học sinh cao quá bảng cỡ số thì hãy đo đạc cho các em như đo cho người trưởng thành. Đó cũng chính là lý do Hồng Đức nâng bàn lên 700 mm cho cấp 2 và 750 mm cho cấp 3, thay vì bám sát bảng năm 2011.
Hồng Đức làm dòng phổ thông ba mức theo cấp học: 640 mm cho tiểu học, 700 mm cho cấp 2, 750 mm cho cấp 3 và đại học. Cùng một mẫu có đủ cả ba mức, ví dụ mã BNP18C1 liền ghế có tựa và BNP15C1 bàn ghế rời đều đặt được cả 640, 700 lẫn 750 mm. Trường nhiều cấp học nhờ vậy đặt một lần được cả bộ đồng màu, chỉ khác chiều cao theo từng dãy phòng.
Trường nên chọn bàn liền ghế hay bàn ghế rời?
Ba mã cấp 2 đang sản xuất đều có mặt bàn 1200 × 400 mm, cao 700 mm:
Loại liền ghế giữ nguyên hiệu số bàn ghế vì hai phần gắn cứng vào nhau, học sinh không kéo ghế ra xa được. Đổi lại, kê thành nhóm để thảo luận thì nặng và khó xoay. Loại rời nhẹ, dễ xê dịch, hợp với lớp hay đổi cách kê. Nhưng ghế rời thì lẫn lộn giữa các phòng, và một cái ghế thấp hơn lạc vào phòng bàn 700 mm là em ngồi phải nhướn vai suốt buổi mà không ai để ý.
Trường nào cần bàn ghế khớp đúng bảng cỡ số để nghiệm thu thì có dòng làm đúng Thông tư 26, đủ bốn cỡ từ III đến VI, khớp từng milimet. Ba cỡ dùng cho cấp 2 là HBH04M cỡ IV, HBH05M cỡ V và HBH06M cỡ VI, mỗi cỡ có thêm bản đuôi G nếu trường muốn mặt gỗ tự nhiên ghép thanh thay cho gỗ công nghiệp MFC.
Mua bàn học ở nhà thì nhìn con số nào?
Đây là chỗ phụ huynh hay nhầm, và nhầm ở chính bảng thông số của người bán. Bàn học gia đình kiểu có giá sách phía trên thường ghi kích thước dạng dài nhân sâu nhân cao, ví dụ 1200 × 600 × 1800 mm. Con số 1800 là chiều cao tổng thể tính đến nóc giá sách, không phải chiều cao mặt bàn. Mặt bàn nằm đâu đó quãng giữa, và bảng thông số không nói.

Nhìn ảnh thì rõ ngay: phần giá sách chiếm hơn nửa chiều cao. Cho nên đọc thấy 1800 mà tưởng bàn cao 1,8 mét thì buồn cười, nhưng đọc thấy 1500 rồi yên tâm là bàn vừa tầm thì mới đáng lo, vì con số ấy chẳng nói gì về chỗ đứa trẻ đặt tay lên viết. Hỏi người bán đúng một câu: mặt bàn cách sàn bao nhiêu. Có con số ấy rồi thì tra ngược lên bảng đầu bài: con cao 130 đến 144 cm thì cần mặt bàn 570 mm, cao 145 đến 159 cm thì 630 mm, từ 160 cm trở lên thì 690 mm.
Có một dòng ghi thẳng con số ấy, là bàn học đơn gấp gọn: mặt bàn 700 × 480 mm, ba mức chiều cao 640, 700 và 750 mm để chọn. Mã BNPĐ1.1 mặt Plywood, BNGĐ1.1 mặt gỗ ghép thanh, BNMĐ1.1 mặt MFC, cả ba đều có ngăn đựng sách phía dưới. Nhà có con học cấp 2 thì lấy bản 700 mm, đúng mức bàn cấp 2 ở trường. Con ngồi ở lớp thế nào, về nhà ngồi y như vậy, không phải đổi tư thế giữa hai nơi.

Bàn học đẹp có quan trọng không?
Màu gỗ sáng hay vân óc chó, khung sắt đen hay ghi, có ngăn kéo hay không: những thứ ấy chọn theo phòng và theo ý đứa trẻ, không có đúng sai. Chỉ có một điều nên nhớ. Bộ bàn ghế đẹp mà cao sai vẫn khiến đứa trẻ khom lưng suốt bốn năm cấp 2, còn bộ bàn ghế bình thường mà vừa vóc dáng thì ngồi cả buổi không mỏi. Chọn đúng chiều cao trước, chọn kiểu dáng sau.
Học sinh sang cấp 3 lại đổi cỡ lần nữa. Chuyện chiều cao bàn cấp 3, tôi viết riêng ở bài kích thước bàn ghế học sinh cấp 3. Bảng cỡ số cho cả ba cấp học nằm ở bài chọn bàn ghế học sinh theo chiều cao. Mua về rồi thì chuyện kê bàn ở đâu trong phòng cho đủ sáng tôi viết ở bài kê bàn học cho con ở đâu, còn nhà trường nhận hàng cần kiểm những gì thì ở bài quy trình sản xuất bàn ghế học sinh.
Bàn ghế cho học sinh cấp 2 ở đây do Hồng Đức làm tại Lô C, Khu công nghiệp Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa, đủ cỡ số IV và V theo Thông tư 26.
Lứa này cao nhanh, nên đo lại đầu năm học rồi hãy đặt. Cần tư vấn cỡ thì gọi 0914 312 295.
Căn cứ
- Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT ngày 16/06/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế hướng dẫn tiêu chuẩn bàn ghế học sinh trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông. Cỡ số IV, V, VI và sai số cho phép lấy từ văn bản này.
- Công văn số 4517/BGDĐT-KHTC ngày 22/08/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn bàn ghế học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông.
- Thông tư liên tịch số 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT ngày 12/05/2016 của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về công tác y tế trường học.
- Thông số kích thước lấy từ hồ sơ kỹ thuật các mã HBH21G, HBH22G, HBH23M, HBH03M và dòng bàn học đơn gấp gọn của Nội thất Hồng Đức.
