Khoảng cách hàng ghế hội trường không có một con số cố định áp dụng cho mọi công trình. Khoảng cách này phụ thuộc vào độ sâu thân ghế và việc ghế có bàn viết hay không. Muốn người đi qua thuận tiện mà hàng ghế không phải đứng dậy, khoảng cách giữa hai hàng phải được tính toán chính xác từ kích thước thực tế của mẫu ghế sử dụng.

Khoảng cách hàng ghế hội trường phụ thuộc vào những yếu tố nào?
Khoảng cách giữa các hàng ghế hội trường phụ thuộc vào ba yếu tố kỹ thuật gồm độ sâu thân ghế, loại ghế có bàn viết hay không bàn viết, và khoảng trống lưu thông tối thiểu giữa hai hàng. Mỗi mẫu ghế có thông số riêng nên không thể áp dụng một con số chung cho mọi mặt bằng.
Đầu tiên là độ sâu thực tế của ghế khi ngồi và khi đệm lật lên. Dòng ghế có đệm lật tự động giúp mở rộng lối đi khi không có người ngồi. Ngược lại, ghế đệm cố định hoặc ghế chân gỗ tĩnh luôn chiếm diện tích sàn cố định. Nếu không tính đúng độ sâu khi mở đệm, lối đi thực tế sẽ bị hẹp lại.
Thứ hai là bàn viết cá nhân gắn kèm. Ghế có bàn viết đòi hỏi bước hàng lớn hơn, vì mặt bàn vươn về phía trước và chiếm thêm chiều sâu. Người ngồi cần khoảng không vừa đủ để ghi chép mà không bị vướng người phía trước.
Thứ ba là yêu cầu lưu thông an toàn. Khoảng trống lọt lòng giữa mép mặt ngồi hàng sau tới điểm nhô ra xa nhất của lưng ghế hàng trước phải đủ để người bước qua thuận tiện mà người đang ngồi không phải đứng dậy.
Tiêu chuẩn tham chiếu về khoảng cách hàng ghế và lối đi được quy định ra sao?
Hiện nay Việt Nam chưa ban hành quy chuẩn riêng cho hội trường cơ quan hành chính nhà nước. Vì vậy, các kỹ sư tham chiếu hai bộ tiêu chuẩn có tính chất công trình tương đồng là TCVN 5577:2012 dành cho rạp chiếu phim và TCVN 9365:2012 dành cho nhà văn hóa thể thao, do đều có phòng khán giả bố trí hàng ghế cố định.
Theo TCVN 5577:2012 (tiêu chuẩn thiết kế rạp chiếu phim), mục 5.2.1.4 quy định khoảng cách giữa hai hàng ghế từ 0,90 m đến 1,05 m giữa hai chỗ tựa lưng. Chiều rộng lối đi giữa hai hàng theo Bảng 3 từ 0,40 m đến 0,50 m. Khoảng cách nhỏ nhất giữa hai hàng là 0,85 m với hàng có 13 đến 20 ghế một đầu lối đi (hoặc 26 đến 40 ghế hai đầu lối đi), và 0,90 m với hàng có 21 đến 25 ghế một đầu lối đi (hoặc 41 đến 50 ghế hai đầu lối đi). Hàng dưới 12 ghế chưa có số liệu công bố. Chú thích Bảng 1 cho phép thay đổi thông số không quá ± 20 % khi phòng nằm trong tòa nhà đa chức năng.
Theo TCVN 9365:2012 (tiêu chuẩn thiết kế nhà văn hóa thể thao cấp quận huyện từ 100 đến 500 chỗ), mục 5.2.2.2 quy định diện tích phòng khán giả từ 0,7 đến 1,0 m2/chỗ ngồi. Phòng từ 300 chỗ trở xuống được làm nền phẳng đa năng. Bãi đỗ xe và nơi tập kết cần 0,3 m2/chỗ ngồi. Hành lang thông thủy rộng 1,8 m nếu phòng một bên hoặc 2,1 m nếu phòng hai bên. Phòng dưới 400 chỗ cần thông gió tự nhiên và quạt trần. Độ rọi phòng khán giả từ 75 đến 150 lux, sân khấu từ 50 đến 100 lux.
| Hạng mục thông số | Căn cứ tiêu chuẩn |
|---|---|
| Khoảng cách giữa hai hàng ghế | TCVN 5577:2012 (mục 5.2.1.4) |
| Chiều rộng lối đi giữa hai hàng | TCVN 5577:2012 (Bảng 3) |
| Khoảng cách nhỏ nhất (13 đến 20 ghế/hàng) | TCVN 5577:2012 (Bảng 3) |
| Khoảng cách nhỏ nhất (21 đến 25 ghế/hàng) | TCVN 5577:2012 (Bảng 3) |
| Khoảng cách nhỏ nhất (dưới 12 ghế/hàng) | TCVN 5577:2012 (Bảng 3) |
| Diện tích sàn phòng khán giả | TCVN 9365:2012 (mục 5.2.2.2) |
| Biên độ sai số tòa nhà đa chức năng | TCVN 5577:2012 (Bảng 1) |

Ghế có bàn viết và ghế không bàn viết cần khoảng cách hàng khác nhau thế nào?
Ghế hội trường có bàn viết đòi hỏi khoảng cách giữa các hàng lớn hơn so với ghế không bàn viết vì mặt bàn khi mở ra làm tăng độ sâu sử dụng của ghế. Nếu giữ nguyên khoảng cách như ghế thường, người ngồi phía sau sẽ bị bàn ép sát ngực và lối đi bị chặn đứng.
Theo danh mục hiện hành của Nội thất Hồng Đức, ghế có bàn viết mở rộng chiều sâu đáng kể. Mẫu TC306B kích thước 640 × 610/740 × 935 mm, tăng từ 610 mm lên 740 mm khi mở bàn viết gỗ melamine. Mẫu TC314B kích thước 680 × 640-820 × 1000 mm, tăng từ 640 mm lên 820 mm khi mở bàn viết gỗ công nghiệp. Mẫu TC310B kích thước 660 × 740 × 860/930 mm có bàn viết gỗ melamine. Với các dòng này, khoảng cách hàng phải nới rộng để bảo đảm lối đi lọt lòng tối thiểu 0,40 m.
Với ghế không bàn viết, độ sâu thân ghế gọn hơn. Mẫu TC314 kích thước 630 × 620 × 1000 mm, TC336 kích thước 610 × 700 × 1000 mm, TC03B kích thước 660 × 750-850 × 1000 mm. Dòng liên kết dãy GHT17, GHT18 (khung gỗ tự nhiên) và GHT19, GHT20 (khung sắt sơn tĩnh điện) có kích thước 490 × 490 × 450 mm. Chiều sâu 490 mm giúp tiết kiệm sàn, bố trí được nhiều hàng mà vẫn bảo đảm lưu thông.
Theo danh mục hiện hành của Hồng Đức, ghế liên kết dãy tính theo chỗ từ 1.910.000 đến 3.340.000 đồng/chỗ, ghế rời tính theo chiếc từ 940.000 đến 4.820.000 đồng/chiếc. Ở cùng cỡ liên kết dãy 490 × 490 × 450 mm, khung sắt GHT19, GHT20 rẻ hơn khung gỗ GHT17, GHT18 khoảng 29% cho mỗi chỗ ngồi.
| Mã sản phẩm | Bàn viết | Kích thước (Dài × Rộng × Cao) | Cấu tạo chính |
|---|---|---|---|
| TC306B | Bàn viết gỗ melamine | 640 × 610/740 × 935 mm | Khung thép, đệm tựa liền mút bọc vải |
| TC314B | Bàn viết gỗ công nghiệp | 680 × 640-820 × 1000 mm | Khung sắt, đệm mút |
| TC310B | Bàn viết gỗ melamine | 660 × 740 × 860/930 mm | Khung thép, đệm mút bọc vải, ốp nhựa |
| TC314 | Không bàn viết | 630 × 620 × 1000 mm | Khung sắt, đệm mút |
| TC336 | Không bàn viết | 610 × 700 × 1000 mm | Khung thép, đệm mút bọc vải |
| GHT19 / GHT20 | Không bàn viết | 490 × 490 × 450 mm | Khung sắt sơn tĩnh điện, liên kết dãy |
Chiều rộng mỗi chỗ ngồi và số ghế tối đa trong một hàng tính thế nào?
Chiều rộng mỗi chỗ ngồi theo TCVN 5577:2012 mục 5.2.1.4 quy định từ 45 cm đến 50 cm, tính theo khoảng cách tim hai chỗ tựa tay. Các mẫu ghế liên kết dãy GHT17, GHT18, GHT19 và GHT20 của Nội thất Hồng Đức đều có chiều rộng chuẩn 490 mm mỗi chỗ ngồi.

Với dòng ghế rời khung gỗ Hồng Đức, chiều rộng từ 400 mm đến 560 mm gồm GHT13 (400 × 420 × 450/1050 mm), GHT14 (405 × 505 × 1050 mm), GHT12 (430 × 440 × 470/1100 mm), GHT15 (450 × 550 × 1080 mm), GHT11 (470 × 460 × 450/1100 mm), GHT16 (500 × 400 × 450/1050 mm), GHT05 và GHT06 (450 × 470 × 470/1100 mm), GHT07 có tay (560 × 480 × 1100 mm).
Về quy định an toàn, Bảng 2 của TCVN 5577:2012 quy định số ghế tối đa trong một hàng là 25 ghế nếu chỉ có một đầu lối đi, và 50 ghế nếu có lối đi ở cả hai đầu dãy. Bố trí vượt quá số ghế này sẽ gây mất an toàn khi thoát hiểm.
Lối đi dọc và lối đi ngang trong hội trường được bố trí ra sao?
Lối đi dọc và lối đi ngang là các tuyến thoát hiểm chính trong khán phòng, cần được thiết kế thẳng hàng, thông thoáng và dẫn trực tiếp tới cửa ra vào để người di chuyển nhanh chóng.
Theo TCVN 9365:2012 mục 4.12, đường phân tán khán giả có chiều rộng không nhỏ hơn 1 m cho mỗi 500 khán giả. Bảng 6 quy định chiều rộng thông thủy hành lang là 1,8 m khi phòng đặt một bên và 2,1 m khi phòng đặt hai bên. Tuy nhiên, chiều rộng lối đi dọc và lối đi ngang tối thiểu trong phòng khán giả hội trường cơ quan cần xác định theo hồ sơ thiết kế công trình.
Ngoài ra, khoảng cách từ hàng ghế đầu tiên tới mép sân khấu cũng cần tính toán để người ngồi hàng đầu không bị mỏi mắt và chừa lối đi ngang phía trước.
Vì sao nên kê thử trước khi lắp cố định chân ghế xuống sàn?
Kê thử ghế trên mặt bằng thực tế trước khi khoan bắt vít là bước kiểm tra cần thiết để phát hiện sai lệch giữa bản vẽ và hiện trạng phòng họp. Bản vẽ thường thẳng tuyệt đối, nhưng thực tế hay gặp tường nghiêng, gờ chân tường, cột chịu lực làm thay đổi khoảng cách hàng ghế.
Khi thi công, thợ của Hồng Đức thường xếp thử các cụm ghế mẫu, thao tác gập mở đệm và lật bàn viết để người dùng ngồi thử. Việc này giúp kiểm tra đầu gối có bị vướng và lối đi có đủ thoáng hay không. Nếu khoan vít nở sắt ngay, khi phát hiện bị chật, việc nhổ vít khoan lại sẽ làm vỡ gạch lát sàn và để lại lỗ hổng mất thẩm mỹ.
Hồng Đức là đơn vị có 22 năm sản xuất nội thất với nhà máy tại Thanh Hóa, chuyên cung ứng bàn ghế hội trường, bục phát biểu và bục tượng Bác gỗ tự nhiên. Sản phẩm được bảo hành 12 tháng kèm bảo trì trọn đời, hỗ trợ giao và lắp đặt tận nơi kể cả huyện xa. Quý khách vui lòng liên hệ Hồng Đức để được tư vấn phương án kê ghế theo mặt bằng thật. Hotline: 0914312295.
Câu hỏi thường gặp về khoảng cách hàng ghế hội trường
Nội thất Hồng Đức có khảo sát mặt bằng trước khi báo giá không?
Có. Hồng Đức nhận cử cán bộ kỹ thuật khảo sát thực địa, đo đạc kích thước sàn và kiểm tra vị trí cột hay cửa thoát hiểm trước khi lên phương án, tùy theo quy mô đơn hàng. Việc khảo sát giúp xác định chính xác số lượng chỗ ngồi và khoảng cách hàng ghế phù hợp, tránh sai sót khi thi công.
Ghế hội trường đã lắp rồi có kê lại được không?
Ghế đã khoan bắt vít cố định vẫn có thể tháo dỡ để kê lại, nhưng việc này tốn nhiều công sức và làm hỏng mặt sàn. Các lỗ khoan vít nở sắt cũ trên nền gạch sẽ phải trám vá lại. Khách hàng nên duyệt kỹ bản vẽ và kê thử thực tế trước khi thợ khoan sàn bắt vít.
Hội trường hẹp thì giảm khoảng cách hàng có được không?
Đơn vị sử dụng có thể giảm nhẹ khoảng cách hàng ghế nhưng không vượt quá mức cho phép 20% theo quy chuẩn tham chiếu cho khối phòng đa năng. Nếu ép các hàng ghế quá sát, người ngồi sẽ bị chạm đầu gối vào ghế trước và lối thoát hiểm bị nghẽn. Khi phòng hẹp, giải pháp tốt hơn là chọn ghế đệm lật tự động hoặc giảm bớt số hàng ghế.
Có bản vẽ phương án kê ghế không?
Khách hàng làm việc với Nội thất Hồng Đức đều được cung cấp bản vẽ bố trí mặt bằng 2D chi tiết dựa trên số đo thực tế của phòng họp. Bản vẽ thể hiện rõ khoảng cách từng hàng ghế, lối đi dọc, lối đi ngang và tầm nhìn lên sân khấu để cơ quan phê duyệt trước khi thi công.
